Xã Hội Dân Sự

Văn hóa và hội nhập


VietNamNet - 08:12' 06/11/2006 (GMT+7)

(VietNamNet) - Cần nhìn nhận và phát huy văn hóa như một giá trị để khẳng định vị trí và vươn lên trong hội nhập. Giáo sư Tương Lai đưa ra một trường hợp là câu chuyện về bài hát Diễm Xưa của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.


Diễm Xưa (tranh của họa sĩ Đoàn Thạch Biền)

“Văn hóa, với ý nghĩa sâu xa nhất và tốt đẹp nhất của nó” là “cốt lõi của bản lĩnh, bản sắc dân tộc từ xa xưa cho đến nay”, là “sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng phát triển và lớn mạnh… (Phạm Văn Đồng). Đó chính là điểm tựa vững chắc để chúng ta đến với thế giới. Sự khẳng định đầy tự hào.

Những bước tiến mới đáng khích lệ trên hành trình hội nhập như: sắp trở thành thành viên của WTO, là nước chủ nhà của APEC sắp tới, vừa được đề cử là ứng viên châu Á duy nhất vào ghế thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ…là sự ghi nhận của quốc tế về vị thế của Việt Nam trong bối cảnh mới của thế kỷ XXI. Làm sao nhận ra được cái chất văn hóa trong tất cả các sự kiện đó để tìm ra được điểm tựa nói trên là cả một vấn đề! Chúng ta đến với thế giới bằng chính cái lợi thế của một nước “vôn xưng văn hiến đã lâu”. Văn hiến, tức là văn hóa và hiền tài, là nhân tố trước tiên để xác lập vị thế của một quốc gia, sau đó mới đến lãnh thổ, phong tục và triều đại. Đó là sự khẳng định của Nguyễn Trãi, anh hùng dân tộc và là danh nhân văn hóa của thế giới.

Biết tự hào để tự tin, vì lòng tự tin đó bắt nguồn từ thái độ thực sự cầu thị “biết mình, biết người”. Là một nước nghèo, với xuất phát điểm của thu nhập bình quân đầu người dự kiến vào 2007 là 820 USD, nếu không tìm ra được một lợi thế để làm điểm tựa, sẽ không có đủ bản lĩnh và dũng khí để dấn bước vào hội nhập kinh tế quốc tế. Ấy thế mà, nhận cho ra cái lợi thế đó không dễ chút nào.

Vì, có một sự thật cần được nói rõ: nhìn văn hóa như một động lực của của sự phát triển kinh tế là cách nhìn mới được xác lập gần đây, những thập niên cuối thế kỷ XX. Trong cách tiếp cận của truyền thống văn hóa Việt Nam nói riêng và phương Đông từ xưa, cách nhìn ấy quá xa lạ với quan điểm “văn dĩ tải đạo”. Đạo ở đây là “đạo của người quân tử” chỉ đề cao “nghĩa” mà coi khinh “lợi” vốn cho là ham muốn của kẻ “tiểu nhân” ham giàu! Cho nên, “an bần lạc đạo” mới là thái độ sống của người quân tử trọng đạo lý, người “có văn hóa”.

Từ Đổi Mới, người ta bắt đầu nói đến “văn hóa kinh doanh”. Để kinh doanh một cách có văn hóa thì doanh nhân phải là người có văn hóa, trọng văn hóa và hiểu được rằng văn hóa là động lực của phát triển nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng. Ngày người ta càng hiểu ra rằng, “văn hóa dù được định nghĩa như thế nào, cũng tồn tại dai dẳng một cách khác thường. Cách đây gần 50 năm, Nhật Bản và Đức đã bị bại trận, và cùng với sự bại trận đó, những giá trị, những định chế cùng nền văn hóa của họ cũng mất hết uy tín. Nhưng nước Nhật và nước Đức ngày nay, về phương diện văn hóa của họ vẫn rất Nhật và rất Đức, không thể nhầm lẫn vào đâu được dù cho cách ứng xử nọ của họ có khác đi bao nhiêu chăng nữa. Thực tế là người ta chỉ có thể thay đổi thành công ứng xử nếu dựa trên nền tảng cũ nền văn hóa hiện tồn. Nhật là tấm gương tốt nhất. Là nước duy nhất trong tất cả các nước không thuộc phương Tây đã trở thành một xã hội hiện đại, nhờ các nhà canh tân của họ, cách đây một trăm năm, đã có ý thức đặt sự ứng xử mới được “Tây phương hóa” trên nền tảng những giá trị truyền thống và văn hóa truyền thống của Nhật” (Peter F.Drucker) Hiện nay, Nhật là một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu và là bạn hàng số một của Việt Nam, là nước tài trợ vốn ODA lớn nhất cho Việt Nam, là nước đứng thứ ba về đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, chiếm 85% tổng số vốn đăng ký.


Bài hát Diễm Xưa vẫn được hát vào giao thừa tại Nhật (ảnh: trinh-cong-son.com)

Xin gợi ở đây một câu chuyện liên quan đến người Nhật và văn hóa Nhật. Tối 2.11.2006 tại khách sạn Sheraton TP. Hồ Chí Minh có một buổi họp mặt thú vị giữa các nhà đầu tư Nhật Bản với đại diện gia đình nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Trần Mạnh Tuấn, cây Saxophone số 1 của Việt Nam và ca sĩ Cẩm Vân. Duyên do là ông Shingo Matsuo, Chủ tịch của Tập đoàn Điện lực “Kyushu”, một tập đoàn lớn của Nhật đã đầu tư xây dựng công trình Điện Phú Mỹ 3 cùng với tập đoàn Sojitz và tập đoàn Siement, một tập đoàn lớn của Đức. Đến thăm Việt Nam và xem xét hoạt động đầu tư, trước khi ra sân bay, ông Chủ tịch cùng các vị khách Nhật có nguyện vọng muốn được nghe lại bài “Diễm Xưa” của Trịnh Công Sơn mà ông đã từng nghe ở Nhật. Điều thật cảm động là, với ông Chủ tịch, nét nhạc Trịnh Công Sơn qua bài “Diễm Xưa”, được người Nhật dịch là “Nét đẹp xưa”, đã để lại một dấu ấn đậm nét trong tâm hồn ông, một trong những lý do thôi thúc ông đến với Việt Nam, quê hương của tác giả bài hát đã làm rung động trái tim ông.

Càng xúc động hơn khi được cho biết rằng, trong nhiều năm trở lại đây, cứ đến trước giờ giao thừa tại nước Nhật, bài “Nét đẹp xưa” lại được hát lên và người ta ước lượng hơn một nửa dân số Nhật, đúng vào giờ phút đặc biệt trong một năm, đã chờ đợi để thưởng thức lời ca và giai điệu Trịnh Công Sơn qua giọng hát của một ca sĩ Nhật. Thể theo yêu cầu của ông Chủ tịch và những cộng sự của ông trong đoàn các doanh nhân lớn của Nhật, gia đình Trịnh Công Sơn đã mời Trần Mạnh Tuấn và ca sĩ Cẩm Vân trình diễn một số nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, trong đó có bài “Diễm xưa” mà ông Chủ tịch yêu thích và khe khẽ hát theo. Trả lời câu hỏi “ngoài Trịnh Công Sơn, người Nhật còn yêu thích tác phẩm nào khác của các nhạc sĩ Việt Nam”, ông Hidetoshi Nishimura, Cố vấn cao cấp của Tập đoàn Sojitz, một nhà kinh tế lớn rất am tường về văn hóa, đã trả lời theo ông có lẽ không có ai khác. Qua tiếng xăcxôphôn mượt mà, thanh thoát, dạt dào cảm xúc của Trần Mạnh Tuấn trình diễn bài “Cát bụi”, ông Hidetoshi xúc động nói “tôi nghe được nhịp đập từ trái tim nghệ sĩ, nhịp đập của trái tim Trịnh Công Sơn được truyền qua tiềng kèn thiết tha, xúc động. Có cái gì đó rất gần gũi về văn hóa Việt và văn hóa Nhật.”.

Ông Chủ tịch vui vẻ chia tay trong lời nói rất chân tình: “tôi sẽ còn đến Việt Nam không chỉ để kiểm tra công trình điện Phú Mỹ 3, mà còn vì “nét đẹp xưa”, vì nét nhạc Trịnh Công Sơn, vì văn hóa Việt Nam rất gần gũi với tôi”.

Vâng, văn hóa mới là chất kết dính lâu bền trong quan hệ kinh tế, trong mối quan hệ thân tình, hữu nghị giữa các dân tộc trong một thời đại đầy biến động của thế kỷ XXI. Từ câu chuyện nhỏ, càng hiểu được điểm tựa về văn hóa có ý nghĩa như thế nào đối với hội nhập quốc tế.

* Tương Lai


Giáo dục-Du học: Thưa các nhà biên soạn, châu Phi có bao nhiêu quốc gia ?


Tiền Phong, Thứ Hai, 11/12/2006, 07:32

TP - Lâu nay, người ta bàn nhiều đến sai sót trong ngành giáo dục, nhưng chưa có ai dám nghĩ nhiều đến sai sót trong sách giáo khoa.
Xin giở SGK Lịch sử lớp 12, tập I, NXB GD 2006, tái bản lần thứ 14 tại bài: Các nước Á , Phi, Mỹ latinh sau chiến tranh thế giới thứ hai, phần V, mục 1 trang 48 có ghi: Châu Phi gồm 57 quốc gia.
Lại xin lật SGK Địa lý 11, NXB GD 2006, tái bản lần thứ 15 tại trang 37 cũng có ghi: Châu Phi tổng số có 53 quốc gia.
Hãy khoan! Đừng manh động! Ta hãy thử dùng phương pháp loại suy trong Logic học và Toán học xem sao. Vì chỉ có một đáp án đúng, nên, nếu SGK Lịch sử 12 đúng thì SGK Địa lý 11 sai và ngược lại. Hoặc, có thể cả hai đều sai, chứ không thể có chuyện cả hai đều đúng. Vậy, có ít nhất một quyển SGK đã bị sai. SGK sai! Điều này thật khó tin.
Được biết, SGK được cả một hội đồng các nhà khoa học danh tiếng trong nước biên soạn. Sau đó, lại có một hội đồng thẩm định, xong mới được Nhà nước ban hành và coi như Pháp lệnh Nhà nước. Mà đã là Pháp lệnh, thì ai dám trái!
SGK như thế, sách hướng dẫn như vậy, cứ thế mà dạy theo sách. Thầy Lịch sử thì dạy 57 nước, thầy Địa lý thì dạy 53 quốc gia. Ai dám nói thầy dạy sai! (Nói có sách, mách có chứng kia mà)!
Tình cờ – chỉ là tình cờ thôi đấy – khi thao giảng bài: “Các nước Á, Phi, Mỹ latinh sau chiến tranh thế giới thứ hai” môn Lịch sử lớp 12 tôi mới phát hiện ra điều này.
Tôi đã đem điều này đến hỏi các “cây đa, cây đề” về lịch sử và địa lý ở các trường, thì tất cả đều… ngạc nhiên và tìm cách… “chuyển” !? Thầy còn thế, hỏi trò làm sao ?
Thầy “ứ biết”, trò cũng “ứ biết”. Nhưng, còn các nhà biên soạn SGK thì sao ?
Xin gửi lời ngỏ này đến các nhà biên soạn SGK và hội đồng thẩm định SGK.
Nguyễn Tiến Mạnh


Những nhận định sai lệch về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền của ông Vũ Đức Tân


2006.12.10 Nguyễn An, phóng viên đài RFA

Tạp chí Văn Học Nghệ thưật, kỳ này là cuộc trao đổi giữa BTV Nguyễn An của ban Việt ngữ và nhà văn Tam Nguyên ở trong nước về hai bài viết liên quan đến nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, sau khi thơ của ông đựơc giới thiêu trên tạp chí Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam.


Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.

Nguyễn An: Có người nói thơ củaThanh Tâm Tuyền được Tạp Chí Thơ của hội Nhà văn Việt Nam giới thiệu có vẻ là một hiện tượng lạ và mới. Ông nghĩ sao?

Nhà văn Tam Nguyên: Lần đầu tôi được đọc một số bài thơ của Thanh Tâm Tuyền trên Tạp Chí Thơ, cảm nhận rất thú vị và nể trọng tài thơ của ông. Mấy ngày sau có một ông tên Vũ Đức Tân có bài về Thanh Tâm Tuyền làm tôi rất sốc bởi những nhận định của ông về nhà thơ này.

Ông Vũ Đức Tân kể rằng vào thập kỷ 50 của thế kỷ trước nhà thơ Thanh Tâm Tuyền chạy từ miền Bắc vào miền Nam và là nhà thơ chống cộng ra mặt. Vũ Đức Tân cho rằng Tạp Chí Thơ phải giới thiệu thật đầu đũa bản chất ấy của Thanh Tâm Tuyền để độc giả khỏi bị mơ hồ “lẫn lộn trắng đen”. Vũ Đức Tân còn tỏ ý phê phán sự nhìn nhận của Tạp Chí Thơ về Thanh Tâm Tuyền là gây “khó hiểu” cho độc giả vì sự lập lờ của mình.

Tôi định viết một bài trao đổi với Vũ Đức Tân về những nhận định ấy của ông là không thích hợp nữa. Nhưng vì phải gấp rút hoàn thiện cuốn sách nên chưa làm được. Rất may, ít hôm sau thấy đăng một bài báo của Thanh Thảo, nhan đề “Quyết tâm ... chụp mũ” chứa đựng hầu hết luận điểm đồng nhất với tôi, nghĩa là phản bác toàn bộ bài của Vũ Đức Tân.

Độc giả rất dễ thấy Vũ Đức Tân đã chụp mũ bừa bãi nhà thơ Thanh Tâm Tuyền bằng những ngôn từ có lẽ chỉ thích hợp vào giai đoạn đất nước ở trong tình trạng chia cắt. Chúng ta đã đi qua trên ba chục năm, kể từ 1975, cả người trong nước lẫn Việt kiều đã từng bước cố gắng xoá đi những dị biệt, hận thù trong quá khứ để chung tay xây dựng một Việt Nam mới, thì vì sao ông Vũ Đức Tân lại nỡ hạ Thanh Tâm Tuyền bằng những câu nghe lạnh cả người:

“Cái tên (Thanh Tâm Tuyền) gắn với giai đoạn sáng tác đắc ý của một sỹ quan cộng hoà Thanh Tâm Tuyền với ý tưởng chống cộng tươi mới vừa chạy ngoài Bắc vào Nam phục vụ cho chính quyền nguỵ? ”.

Văn học là nhân học, chứ không phải đạo đức học, giáo dục hay hay luật học. Vì vậy, thẩm định văn học không thể lấy đúng, sai làm tiêu chí, lại càng không thể soi vào nhân thân tác giả xem người ấy là ai, đạo đức ra sao, lập trường cách mạng đạt mức độ nào ...

Nhà văn Tam Nguyên

Nguyễn An: Quả là lạnh người. Vậy quan điểm của ông như thế nào về sự chụp mũ ấy?

Nhà văn Tam Nguyên: Văn học là nhân học, chứ không phải đạo đức học, giáo dục hay hay luật học. Vì vậy, thẩm định văn học không thể lấy đúng, sai làm tiêu chí, lại càng không thể soi vào nhân thân tác giả xem người ấy là ai, đạo đức ra sao, lập trường cách mạng đạt mức độ nào ...

Một tác giả nào đó mô tả những nhân vật của mình bằng những tình tiết mà rất có thể bị giới này, giới kia chỉ trích hoặc lên án kịch liệt, nhưng nếu những nhân vật ấy tạo nên những rung cảm thật sự, cũng như đưa lại nguồn mỹ cảm dạt dào thì tác giả của chúng xứng đáng được công chúng độc giả tôn vinh.

Và Thanh Tâm Tuyền chính là một tác giả như vậy. Vì thơ của ông vẫn thấm vào lòng bạn đọc một cách tự nhiên, đúng như Tạp Chí Thơ nhận định: “Ông đã có đóng góp đáng ghi nhận trong tiến trình thay đổi, hiện đại hoá thơ Việt Nam” .

Để tăng thêm sức nặng cho sự phản bác của mình, Thanh Thảo còn đưa ra giả thiết: Cựu thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ - người được biết đã từng chống cộng không khoan nhượng - về mặt này có lẽ Thanh Tâm Tuyền nào thấm tháp gì! - Nếu ông làm được thơ hay thì Tạp Chí Thơ vẫn có quyền giới thiệu. Đúng là một quan điểm rất thức thời và cũng rất quả quyết.

Từ hai bài viết về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền ấy, tôi cảm nhận một nỗi mừng vui khó tả, bởi cái định kiến mang tính chính trị về các nhà thơ, nhà văn từng ám ảnh rất nặng nề không khí văn chương trong nhiều năm nay đã được tháo gỡ hoặc ít ra là được một Tạp chí uy tín nhìn nhận lại. Và rõ ràng nó tạo ra sự cởi mở trong lĩnh vực sáng tạo văn học nghệ thuật.

Và nó cũng cho tôi niềm tin rằng: những quan điểm cũ rích, lạc điệu, nông cạn, hấp tấp và ác ý kiểu Vũ Đức Tân sẽ không còn cơ hội để khua cho bầu không khí văn chương của Việt Nam bụi mù lên nữa. Đó là hiện tượng rất mới và rất đáng biểu dương.

Nguyễn An: Cảm ơn Nhà văn Tam Nguyên.


Việt Nam nên làm gì để có đại học hàng đầu ?


22 Tháng 12 2006 - Cập nhật 11h52 GMT
Hồ Xuân Thiện
Nghiên cứu sinh Đại học Oxford, Anh

Trong một thế giới đang chuyển mình nhanh chóng, giáo dục luôn được coi là chiến lược hàng đầu của các quốc gia phát triển cũng như đang phát triển.

Ở thời đại kỹ thuật và thông tin, sự tụt hậu về tri thức sẽ kéo theo sự tụt hậu của cả quốc gia.

Do vậy, Việt Nam cần phải xây dựng một đại học hàng đầu của mình có tầm vóc ngang hàng với các đại học nổi tiếng của các nước láng giềng. Hiện nay các diễn đàn của một số báo điện tử tại Việt Nam đã đề cập về đại học đẳng cấp quốc tế. Nhân đây, tôi xin đóng góp một số điểm quan trọng sau:

1. Thế giới chưa có hệ thống tiêu chuẩn cho ‘đại học đẳng cấp quốc tế’

Hầu hết các quốc gia đều có các đại học hàng đầu của riêng mình. Ngoại trừ các quốc gia đã phát triển lâu đời và có hệ thống giáo dục rất nổi tiếng như Anh (có ĐH Oxford và Cambridge), Mỹ (Harvard, Viện Kỹ Thuật Công Nghệ Massachusetts - MIT, Princeton, Stanford, Yale), Pháp (ĐH Paris)… các quốc gia khác cũng có một số đại học hàng đầu được nhiều người biết tới. Trung Quốc có ĐH Thanh Hoa và Bắc Kinh, Singapore có ĐH Quốc Gia Singapore, Hàn Quốc có ĐH Quốc Gia Seoul, Đài Loan có ĐH Quốc Gia Đài Loan, Nhật Bản có ĐH Tokyo và Kyoto. Các đại học này đóng vai trò hàng đầu và đại diện về khả năng học thuật và nghiên cứu của quốc gia mình. Người ta có thể đánh giá hệ thống giáo dục của một quốc gia dựa vào khả năng và thành tựu của các đại học hàng đầu của quốc gia ấy.

Tuy nhiên cho đến bây giờ, chưa có hệ thống tiêu chuẩn nào được lập ra để đánh giá rằng liệu một đại học có thuộc vào hàng ‘đẳng cấp quốc tế’ hay không. Người ta chỉ có thể phân các đại học ra làm hai loại chính: đại học nổi tiếng thế giới, và đại học không nổi tiếng, và việc phân loại này cũng dựa theo cảm tính mà thôi. Nói đến Harvard hay Oxford mọi người đều nói đấy là nổi tiếng, nhưng nói đến đại học Florida hay đại học Birmingham thì ta có thể nói các đại học này không phải nổi tiếng lắm, và tất nhiên không phải là hàng đầu. Do vậy, ý kiến cho rằng cần phải xây dựng ĐH có ‘đẳng cấp quốc tế’ là không chính xác.

2. Các chỉ tiêu được sử dụng để so sánh các đại học

Làm sao có thể so sánh các đại học trên thế giới? Hiện nay một số tổ chức quốc tế đánh giá các đại học dựa trên nhiều tiêu chuẩn khác nhau, và không thể dựa vào chỉ một tiêu chuẩn để đánh giá đại học này là tốt hơn đại học khác. Ví dụ như tiêu chuẩn giải Nobel, ĐH Cambridge có 81 giải, ĐH Oxford có 47 giải, ĐH Harvard có 43 giải, tuy nhiên đâu thể nào nói rằng Harvard kém nổi tiếng hơn, hay Oxford có đẳng cấp thấp hơn Cambridge.

Tuy các tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá các đại học rất khác nhau và tuỳ thuộc vào từng cơ quan đánh giá, người ta vẫn dựa vào một số chỉ tiêu chung và cơ bản nhất như: tỉ lệ giáo viên trên sinh viên, số lượng bài báo được xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành nổi tiếng, sự thành công của sinh viên sau khi ra trường, số lượng sinh viên và giáo viên quốc tế, số sách trong thư viện… Đã có nhiều bài báo nói về vấn đề này nên tôi xin không phân tích sâu hơn mà chỉ xin tập trung vào vấn đề của Việt Nam.

3. Việt Nam nên làm gì để có đại học hàng đầu

a. Sử dụng các chỉ tiêu so sánh các đại học nổi tiếng để định hướng phát triển

Tất nhiên trong tương lai gần, đại học hàng đầu Việt Nam (ĐHHĐVN) không thể nào trở thành hàng đầu thế giới được. Mục tiêu đơn giản hơn và hiện thực hơn là xây dựng một hoặc vài ĐHHĐVN có tầm vóc lớn nhất quốc gia và có trình độ tương đương với các đại học nổi tiếng của các quốc gia gần cạnh ta như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore.

Để xây dựng ĐHHĐVN, ta cần phải có những chỉ tiêu rõ ràng (đã nói trong mục 2) cho đại học này, chứ không nên cứ là ‘đại học đẳng cấp quốc tế’ chung chung. Điều đấy có nghĩa là ĐHHĐVN sẽ phải có tỉ lệ giáo viên cho mỗi sinh viên cao, xuất bản được nhiều công trình nghiên cứu trên các báo chuyên ngành trên thế giới, sinh viên tốt nghiệp ra trường sẽ có các việc làm tốt nhất trong xã hội, nhiều sinh viên và giáo viên quốc tế, có thư viện chứa nhiều sách và tạp chí (in và điện tử)…

b. Có chương trình học cập nhật và tương đương với các đại học nổi tiếng thế giới

Các chương trình giảng dạy của các đại học nổi tiếng trên thế giới đã được chuẩn hoá. Họ có những nhà nghiên cứu giỏi để xây dựng bộ khung chương trình hiện đại. Các sách tham khảo, tài liệu giảng dạy, bài tập làm thêm, chủ đề thảo luận nhóm… của các môn học này đã được tối ưu hoá cho sinh viên và bảo đảm mang lại kết quả cao nhất. ĐHQG Singapore và ĐH Thanh Hoa đã mua thiết kế và bản quyền sử dụng các tài liệu giảng dạy của một số ngành học của ĐH Harvard và MIT, vì vậy sinh viên các ngành học đấy ra trường có chất lượng cải thiện hơn hẳn so với trước đây. ĐHHĐVN nên sử dụng chương trình dạy học của các đại học lớn, và hoàn toàn độc lập với chương trình khung hiện nay của Bộ GDĐT.

Các chương trình giảng dạy của các đại học nổi tiếng trên thế giới đã được chuẩn hoá. Họ có những nhà nghiên cứu giỏi để xây dựng bộ khung chương trình hiện đại

Hiện nay Việt Nam đã có một số đại học của các nước khác đến mở chi nhánh đào tạo như Royal Melbourne Institute of Technology - RMIT (Úc), Asian Institute of Technology (Thái Lan)… Các cơ sở này đã có giáo viên đủ tiêu chuẩn và tuyển sinh viên rất gắt gao cả về trình độ chuyên môn lẫn tiếng Anh.

Ta có thể đề nghị các trường này hợp tác và trở thành một phần của ĐHHĐVN. Các trường này sẽ đào tạo các môn chuyên ngành mà họ có thế mạnh, các môn khác/ngành khác sẽ do các đơn vị khác đảm nhiệm. Như vậy ĐHHĐVN sẽ được sinh viên đào tạo các ngành chuyên sâu và không phải mất nhiều thời gian chuẩn bị, và các trường trên sẽ được giảm tải các môn học cơ bản.

c. Thiết lập các mối quan hệ quốc tế sâu rộng

Các đại học trên thế giới có rất nhiều mối quan hệ rộng. Ví dụ như ĐH Thanh Hoa năm 2004 đã mời 16000 khách quốc tế đến tham quan và làm việc. Khách mời của đại học này bao gồm Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Châu Âu, nhiều nguyên thủ quốc gia, thủ tướng, bộ trưởng, đại sứ của các nước và chủ tịch của các tập đoàn quốc tế như IBM, Wal-Mart, Intel hay BMW, cùng với 7 vị đoạt giải Nobel.

ĐHHĐVN phải giao lưu với các đại học lớn khác bằng cách trao đổi sinh viên và giáo viên, kết hợp cùng nghiên cứu khoa học và xây dựng các khoá học liên kết. Hiện nay trên thế giới cũng có các hiệp hội của các đại học như Universitas 21 (hệ thống các đại học nghiên cứu chuyên sâu), IARU (International Alliance of Research Universities – Liên minh quốc tế của các đại học nghiên cứu), ta có thể đăng ký tham gia để hoà nhập vào môi trường quốc tế.

d. Có nguồn vốn dồi dào để trả lương cao và nghiên cứu

Không phải tất cả đại học có nhiều tiền đều nổi tiếng hơn đại học có ít tiền hơn. ĐH Oxford với 5,1 tỉ USD xếp hạng 10 về trên thế giới về vốn, nhưng lại đứng thứ 4 trong xếp hạng đại học thế giới năm 2005 của tờ Times Higher Education. Trong khi đó ĐH Yale với 15,2 tỉ USD xếp hạng 2 về vốn, nhưng lại đứng thứ 7 trong cùng bảng xếp hạng đại học.

Nhưng như vậy không có nghĩa là không có nhiều tiền thì vẫn có được đại học tốt. Các đại học chiếm vị trí cao trong bảng xếp hạng bao giờ cũng là các đại học giàu với vốn lên đến vài tỉ USD. Harvard có vốn 29,2 tỉ USD, giàu nhất thế giới (bằng 50% tổng GDP của Việt Nam), và vị trí số 1 của Harvard hầu như không bao giờ bị cạnh tranh trong những năm gần đây. Năm học 2004-2005, ĐHQG Singapore có thu nhập từ học phí và các nguồn khác chỉ có 113 triệu USD, nhưng được tài trợ thêm 529 triệu (trong đó chính phủ tài trợ 377 triệu ). Họ sử dụng hết 613 triệu. Tổng số tiền chi năm 2005 của ĐH Oxford là 978 triệu USD, ĐH Harvard là 2,8 tỉ.

Do Việt Nam còn nghèo nên ĐHHĐVN cũng sẽ không có hàng tỉ USD, nhưng đại học này phải có nhiều kinh phí. Các nguồn tài trợ có thể đến từ chính phủ, các dự án nghiên cứu theo hợp đồng, tiền học phí của sinh viên, hay từ các nhà hảo tâm và cựu sinh viên. Câu nói ‘có thực mới vực được đạo’ luôn luôn đúng.

ĐHHĐVN còn phải trả lương cao cho đội ngũ giảng viên. Do có các giảng viên có trình độ cao, đại học này phải trả lương tương đương với đại học nổi tiếng của các nước khác để tránh tình trạng chảy máu chất xám. ĐHHĐVN còn phải trả lương để mời giáo sư thỉnh giảng từ các đại học khác đến, và số tiền này phải bằng hoặc cao hơn mức họ nhận tại các đại học khác.

Do cần nhiều kinh phí, ĐHHĐVN cũng phải lấy học phí tương tự với các đại học nổi tiếng. Tại Việt Nam hiện nay có rất nhiều sinh viên hàng năm đi du học với hy vọng tiếp thu kiến thức hàng đầu của thế giới, và họ sẳn sàng trả học phí vài chục ngàn USD/năm. ĐHHĐVN có thể thu hút các sinh viên này. Điều này sẽ gây ra khó khăn cho các sinh viên nghèo vì họ sẽ không đủ kinh phí để đăng ký học. Vì vậy, đại học này sẽ phải cung cấp nhiều chương trình học bổng bán phần và toàn phần cho sinh viên của mình để hổ trợ các sinh viên không đủ khả năng tài chính. ĐHHĐVN còn phải liên kết với các ngân hàng để mở các khoản vay cho sinh viên và họ sẽ trả dần sau khi tốt nghiệp.

e. Đào tạo thế hệ tương lai có khả năng làm việc xuất sắc

ĐHHĐVN, với mục tiêu tối thượng là phục vụ xã hội, nhằm vào đào tạo đại học và sau đại học với chất lượng tốt và thực hiện nhiều nghiên cứu chiến lược. Sinh viên ĐHHĐVN phải có kiến thức hàng đầu cả nước và tương đương với sinh viên của các đại học nổi tiếng trong vùng như ĐHQG Singapore. Sinh viên ra trường phải có khả năng làm việc tốt trong chuyên ngành của mình, có thể thích ứng theo các điều kiện làm việc khác nhau, nhanh chóng nắm bắt cơ hội và làm việc tốt theo nhóm. Giảng viên và nghiên cứu viên của ĐHHĐVN phải có trình độ quốc tế, và phải được kiểm định bởi các thành tựu mà họ đã đạt được như công trình xuất bản trên thế giới, các giải thưởng thế giới, hay khả năng tìm kiếm dự án quốc tế…

Các đại học trong vùng và quốc tế phải chấp nhận là tương đương, và trao đổi sinh viên/giảng viên/nghiên cứu viên với ĐHHĐVN. Các công ty/ngành công nghiệp phải tìm kiếm sinh viên của đại học này sau khi ra trường để mời về làm việc. Cựu sinh viên sau khi ra trường vẫn giữ một mối quan hệ tốt với đại học và luôn mang theo mình một niềm hãnh diện cùng với tên tuổi của đại học mình.

Một điều quan trọng không kém là đội ngũ quản lý. Tất cả các nhân viên của ĐHHĐVN, từ tổng giám đốc cho đến nhân viên quét dọn, đều một lòng phục vụ. Kiên quyết loại trừ các loại tệ nạn trong giáo dục hiện nay như chạy theo thành tích, dối trá bằng cấp, chạy trường chạy điểm.


Cần chuẩn hóa đội ngũ thẩm phán


BBC - 22 Tháng 12 2006 - Cập nhật 10h52 GMT
Tạ Phong Tần
Sở Thương mại & Du lịch Bạc Liêu

Việc tại kỳ họp Quốc hội tháng 11, Chánh án TAND Tối cao Nguyễn Văn Hiện trả lời chất vấn ĐBQH rằng ngành TA phải "vơ vét", "đôn" cả "lái xe, đánh máy" lên bổ nhiệm Thẩm phán rồi cho đi học để hoàn chỉnh trình độ; đã bị nhiều ĐBQH, kể cả những cán bộ trong ngành TA, phản ứng dữ dội.

Có người nói phải xem lại ông Hiện có đủ tư cách lãnh đạo ngành TA hay không, có cán bộ trong ngành TA nói ông Hiện phát biểu "vơ vét" là hoàn toàn sai, tỉnh của ông lực lượng Thẩm phán ngày càng đạt chất lượng.

Là người ngoài ngành, nghe các phát biểu trên tôi cứ như vịt nghe sấm, không biết ai đúng, ai sai. Cả ông Hiện lẫn các vị kia đều là những lãnh đạo khả kính kia mà.

Trên một bài mới đăng ở báo Pháp Luật TP. HCM, ông Đỗ Cao Thắng - Chánh Tòa Kinh Tế TAND tối cao cũng "không rõ" về dự án đăng các bản án lên Internet do nước ngoài tài trợ cho thấy ngay cả lãnh đạo ngành TA cũng thiếu thông tin về chính ngành của mình.

Trình độ

Ông Thắng cũng thừa nhận "trình độ thẩm phán của chúng tôi nếu hỏi đã đạt yêu cầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa thì xin trả lời thẳng thắn là chưa".

Nhiều bản án "chưa chuẩn", văn phong "sai cả chính tả, ngữ pháp", chính vì vậy mà ngành TA không dám công bố công khai các bản án, không dám đưa lên Internet vì "mỗi thẩm phán viết một kiểu".

Tôi cho rằng câu trả lời phải "vơ vét" thẩm phán của ông Hiện không phải là hoàn toàn sai, mà ông Hiện đã nói quá huỵch toẹt sự thật thôi.

Phải có một lực lượng thẩm phán "chuẩn" mới có thể ra được những bản án "chuẩn"; ngược lại trình độ thẩm phán không "chuẩn" nên đẻ ra những bản án không "chuẩn" là điều tất yếu.

Có thể ông Hiện không biết cách nói cho xuôi tai, nói tránh, nói vòng vo cho hết thời gian chất vấn như những vị Bộ trưởng khác, mà ông phang thẳng tuốt tuồn tuột một sự thật đau lòng làm cho nhiều người phải bị dị ứng. "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng", thực tế không đưa được bản án lên Internet chứng tỏ lời ông Hiện nói không phải là không đúng.

Trong thời điểm hiện nay, khi mà tất cả mọi thứ đều phải dần dần đưa vào quỹ đạo công khai, minh bạch thì nhìn nhận đúng chất lượng đội ngũ thẩm phán để nhanh chóng xúc tiến việc chuẩn hóa cán bộ, tạo điều kiện hội nhập vào tiến trình công khai, minh bạch ngay từ bây giờ khi còn chưa quá muộn.

Như vậy thì hơn là cứ "tự ái nghề nghiệp" rồi cãi lý với nhau, hay viện dẫn đủ thứ lý do để che che giấu giấu là đi ngược lại với quy luật vận động và phát triển của đất nước.


Chính trị - Xã Hội: “Hà Nội đang được quản như một cái làng”


Tuổi Trẻ, Thứ Bảy, 23/12/2006, 16:22 (GMT+7)

TTCT - Dưới góc nhìn của những người ít có nhu cầu ra phố buổi tối, lệnh cấm một số loại hình dịch vụ hoạt động quá 12g đêm mới đây của TP Hà Nội không có vấn đề gì. Nhưng với nhiều người khác, đó là sự giới hạn nhu cầu của người dân, quyền tự do buôn bán, và thậm chí, can thiệp vào một nét văn hoa truyền thống của người Hà Nội.

PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái, chủ nhiệm bộ môn văn hoa truyền thông (Đại học Quốc gia Hà Nội) phân tích và lý giải cái sự cấm:

- Về góc đô văn hóa, một thủ đô, chính là một đô thị, bao giờ cũng được cấu trúc bởi hai bộ phận: bộ phận quản ly hành chính, và bộ phận làm kinh tế. Nước mình có truyền thống đô thị mang tính chất nông thôn, thậm chí luôn luôn đứng trước nguy cơ bị “nông thôn hóa”, nghĩa là bộ phận hành chính thường được coi là số một, phần còn lại, phần “thị” (kinh tế), chẳng mấy khi được coi trọng.

Sự ra đời các đô thị truyền thống của VN thường có nguồn gốc: nhà nước đẻ ra đô thị là xác định một nơi chốn trung tâm để đặt bộ máy quản lý quốc gia. Nên phần “đô” thì rất tốt, còn phần “thị” không được quan tâm phát triển. Vì thế, cho đến hết thế kỷ 20, Hà Nội vẫn mang dáng dấp của một cái làng, bởi về căn bản, nó vẫn là một cái làng lớn, được tráng lên một màu đô thị. Căn bản, chu nhân của thành phố này vẫn sống theo phong cách cư dân nông nghiệp đã thành “căn tính nông dân” (chữ dùng của cố GS Trần Quốc Vượng), trong một cái làng. Và cái cách người ta quản thành phố, cũng còn vương vấn dấu vết tư duy nông dân khá rõ.

* Hà Nội ngày nay là sự hoa trộn giữa văn hoá phương Đông và phương Tây, giữa cũ và mới. Nhưng có vẻ những cỏi cũ vẫn còn nặng nề quá ?

- Hà Nội vốn là chỗ họp chợ, tờn xưa cũ của nó là “Kẻ chợ”, là nơi nhiều làng nghề tụ hội, buôn bán, phát triển, thành ra “Hà Nội 36 phố phường”. Sau này, có sự du nhập văn hoa phương Tây, trở thành một đô thị được kiến trúc kiểu phương Tây, nó mới sinh ra cái bi kịch của sự pha trộn.

Bi kịch thứ nhất nhất là kiến trúc. Pháp quy hoạch cho Hà Nội một không gian kiến trúc hiện đại kiểu phương Tây, nhưng những con người sử dụng sau này, về căn bản họ vẫn đối xử với kiến trúc ấy theo kiểu nông dân. Nhiều biệt thự cực đẹp đã bị cơi nới, chia ngăn, phố xá xây dựng chẳng có qui hoạch nhất quán, nay thế này, mai thế khác, nhiều tòa nhà xấu đến nỗi cứ tồn tại sừng sững trong khụng gian như một thách thức về thẩm mỹ, thí dụ tòa nhà “Hàm Cá Mập” ngay cạnh hồ Hoàn Kiếm.

Tuy nhiên, bi kịch kiến trúc, xây dựng chỉ là phần nổi của tảng băng. Cái nằm sâu bên dưới là bi kịch của những cư dân đô thị, vốn từ gốc nông dân vẫn chưa quen với nhịp sống và tư thế, tâm thế phải có của chủ thể một đô thị hiện đại.

* Cách hành xử ở nông thôn hay cho ra những mệnh lệnh theo thói quen, kiểu như cấm cả nhóm ngành dịch vụ không được bán quá 23g (mới đây là 0g) ?

- Những biện pháp hành chính kiểu qui định chỉ cho bán hàng đến 0g, xuất phát từ mong muốn chủ quan tốt, nhưng đang được thực hiện theo kiểu cứng nhắc, không thấu tình đạt lý, nên chỉ hớt được bề mặt của sự đồng thuận. Trong sâu xa, người dân không hưởng ứng, nên nó lộn xộn, không hài hoa, khó khắc phục.

* Đã qua rồi cái thời các cụ đồ dạy những người đàng hoàng không ra khỏi nhà buổi tối ?

- Đó là tư duy của các nhà quản lý không thông thoáng, chỉ nhìn thấy một phía. Một thành phố du lịch, một thành phố lành mạnh và an toàn thì người dân có quyền đi làm, hay đi ăn vào thời gian nào tuy điều kiện và sở thích. Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, Hà Nội muốn hay không cũng phải tham gia vào văn hoa du lịch toàn cầu. Tất cả các thành phố du lịch khác đều cho phép mà, ta lại cấm thì khác quá.

Những người bạn nước ngoài của tôi đến Hà Nội đều nhận xét chỗ đê vui chơi, chỗ để tham quan quá ít. Chúng ta mở bảo tàng, mở các di tích vào ban ngày, đêm đóng cửa. Họ chỉ còn cách đi dạo phố, tìm đến chợ, đến các điểm vui chơi giải trí. Chơi ở đâu? Nhất la những ngày lễ tết, Noel này. Không nên nghĩ ai sống khuya là không đàng hoàng. Cuộc sống ngày nay không đơn giản như trong cái làng, người ta phải làm đêm, phải trực, phải vất vả đến khuya mới về... Số người như thế ơ Hà Nội đến hàng vạn. Vậy mà 11g, 0g, cac nhà hàng, quán cóc cố bán quá ra một tý đều bị nhắc nhở hay bị phạt, thì nhu cầu của người dân ít nhiều bị can thiệp.

* Văn hoa Hà Nội cũng bị thui chột vì Hà Nội xưa có văn hoa ăn đêm? Thú chơi tao nhã uống rượu ngâm thơ thâu đêm cũng hay được nhắc đến trong thi ca ?

- Hà Nội trước có văn hoá ăn đêm. Cái đấy nó tồn tại tự nhiên khi Hà Nội thành một đô thị. Uống rượu ngâm thơ nay không còn nhiều, nhưng người ta có cả nghìn lý do lương thiện để hoạt động về đêm.

* Người thành phố có nhu cầu về thời gian sống khác với nông thôn. Nếu chúng ta vẫn áp dụng kiểu đến giờ đóng cổng làng như ngày xưa sẽ gây thiệt hại ?

- Rõ là những người lao động không có việc ban ngày, phải “tăng gia” về đêm sẽ đau khổ vì bị cấm. Nếu Hà Nôi là một thành phố du lịch, mà cấm như thế sẽ làm giảm doanh thu và làm nghèo đi các dịch vụ thu hút khách. Đa số khách đi du lịch là để đi chơi, chứ không phải ngủ. Tôi đôi khi phải đi dạy học ở thành phố khác, bạn bè lâu ngày gặp nhau, 23g ngồi uống, hay ngồi hát với nhau, chủ tiệm đã nhắc: 23g là hết giờ nhé. Mình cũng thấy ức chế.

Tôi đi mấy nước châu Âu, chẳng thấy nước nào có qui định chỉ được chơi, chỉ được bán hàng đến mấy giờ cả. Đô thị không thể thiếu dịch vụ và cũng không nờn để cái dịch vụ thui chột vì một lý do hành chính nào đó. Ta phải chăm nom thành phố này, phải đưa ra những quy định, như siết chặt quy định giao thông. Nhưng muốn để Hà Nội không giống một cái làng, theo tôi nên để nó phát triển và sinh hoạt theo đúng nhu cầu văn hóa tư nhiên của một đô thị đang hội nhập.

* Hà Nội là một thành phố được UNESCO trao giải “thành phố hòa bình”. Nên thật khó giải thích cho du khách khi 0g, các hàng quán phải đóng cửa ?

- Đúng, khó giải thích. Người ta sẽ nghĩ phải làm sao thì mới cấm đoán như thế. Nhất là khi du khách nước ngoài được thông tin về VN rất ít, họ mới biết về ta qua những cuộc kháng chiến, thậm chí có người vẫn nghĩ ở VN còn xung đột.

* Bản thân những qui định khắt khe về giờ giấc sinh hoạt, buôn bán xuất phát từ lý do sự phát triển của một số tệ nạn. Nhưng vì tệ nạn và một cái gì đó nữa mà cấm như thế có giải quyết được vấn đề ?

- Nó có thể giải quyết được vấn đề nhưng là bề nổi, chiều sâu thì căn bản vẫn là con số không. Như bạn có thể thấy, một số quán họ cứ đóng cửa, nhưng bên trong vẫn đón khách. Họ buộc phải lén lút, và nhân thể lén lút, họ có thể bổ sung thêm nhiều dịch vụ lén lút nữa. Hoặc họ sẽ tìm cách “làm luật” để được “du di”.

* Hiện tại, thời gian cấm đã được giãn ra một tiếng. Có lẽ người ta đã nhận ra vấn đề ?

- Có lẽ đã nhận ra vấn đề nhưng tư duy thì vẫn chật chội bởi cách làm cầm chừng và nhỏ giọt.

* Trước mắt, thủ đô không nên đi ngược lại nhu cầu chính đáng của người dân ?

- Nền văn hóa nông nghiệp của chúng ta, về căn bản là nền văn hoa tĩnh, như GS. Đào Duy Anh từng viết trong “VN văn hóa sử cương” cái văn hóa thích hợp cho sự sinh trưởng của một xã hội bế tỏa, đến khi xã hội ấy gặp tình thế bắt phải khai thông, thì nó lộ ngay ra hết mọi nhược điểm. Cái bi kịch hiện thời của dân tộc ta là sự xung đột của những giá trị cổ truyền của văn hóa cũ ấy với những điều mới lạ của văn hóa phương Tây.

Song quá trình phát triển động (kiểu phương Tây), là cái chúng ta không thể không theo. Nghĩa là không thể không hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa đang là tất yếu. Đô thị hoa, hiện đại hóa, rồi phát triển ngành du lịch, dịch vụ... tất cả đòi hỏi phải có sự điều chỉnh. Phải có tầm nhìn văn hoa rộng, theo xu hướng phát triển. Không thể phát triển dịch vụ nếu ta bó hẹp môi trường đô thị. Hội An đã bỏ lệnh giới hạn buôn bán, cung cấp dịch vụ giải trí sau 23g rồi, tôi nghĩ Hà Nội cũng nên học tập. Công an thay vì đi đuổi tất cả các quán sẽ phải tập trung vào những nơi có tệ nạn, nhạy cảm. Nến phục vụ người dân chứ không nờn gặp khó là cấm dân. Tôi nghĩ làm theo hướng đó sẽ hợp với lòng dân hơn.

C.V.K. thực hiện


Vẫn không thừa nhận bệnh thành tích


Tuổi Trẻ, Thứ Bảy, 23/12/2006, 05:14

TT - Đại hội thể thao sinh viên Đông Nam Á kết thúc, theo lời của những người có trách nhiệm cao nhất của đoàn chủ nhà thì “chúng ta đã đạt thành tích bất ngờ, ngoài mong đợi” khi xếp vị trí số 1 toàn đoàn.

Các kỳ Đại hội thể thao SV Đông Nam Á

VN đã tham dự năm kỳ đại hội. Lần đầu tiên tham dự đại hội lần 9-1996 tại Brunei, VN chỉ có 12 VĐV tham gia thi đấu ba môn và đoạt được 11 huy chương. Kể từ đó, VN đã tham dự các đại hội lần 10-1999 tại Thái Lan, lần 11-2002 tại Philippines và lần 12-2004 tại Indonesia. Ở lần tham dự gần nhất, VN tham dự với 21 VĐV dự thi ở bốn môn; đoạt 9 HCV, 4 HCB và 7 HCĐ và xếp thứ 5 toàn đoàn (Thái Lan dẫn đầu với 52 HCV).

N.K.

Dù vậy, khá nhiều nhà báo có mặt ở buổi họp báo do BTC tổ chức chiều qua (22-12) không ai tỏ ra vui sướng, tự hào với những gì chủ nhà đạt được.

Ông Nguyễn Trọng Hỷ mở đầu buổi họp báo bằng một loạt lời giải thích để chứng minh cho sự thành công, tinh thần fair play của nước chủ nhà ở đại hội lần này. Đặc biệt, ông Hỷ luôn nhắc đi nhắc lại nhiều lần việc chọn lựa các VĐV tham gia đại hội của nước chủ nhà là “đúng đối tượng, đúng điều lệ...”.

Lý giải cho sự xuất hiện các tuyển thủ quốc gia có mặt ở đại hội, ông Hỷ cho rằng do VN chưa có tổ chức thể thao chuyên nghiệp nào ngoài bóng đá nên theo điều lệ đại hội, tất cả VĐV là SV đều được tham dự giải theo đúng qui định của đại hội.


Bảng tổng sắp huy chương đại hội

“Chúng ta phải tự hào khi các tuyển thủ quốc gia của ta là SV. Điều này càng cho thấy chính sách ưu việt của Đảng và Nhà nước, quan tâm tới các VĐV, tạo điều kiện cho họ được học hành tử tế... Và các nước khu vực chưa làm tốt như ta. Đồng thời các đoàn bạn cũng có mặt nhiều VĐV vừa trở về từ Doha” - Ông Hỷ nói.

Đại diện báo Thể Thao TP.HCM dẫn ý kiến chỉ đạo của một vị trong Văn phòng Chính phủ trước đại hội: Tiêu chí chính của đại hội lần này là đưa SV đến với thể thao càng đông càng tốt, vấn đề thành tích không phải là quan trọng nhất... Nhưng thực tế, rất ít SV dự khán các trận đấu. Về việc này, ông Ngũ Duy Anh - phó vụ trưởng Vụ Công tác HSSV, Bộ GD-ĐT - lý giải: “Nguyên nhân là do BTC chưa làm rõ qui mô của đại hội cho SV hiểu và các điểm thi đấu lại xa các trường...”.

Trả lời câu hỏi của báo Lao Động: “Bộ có dám không chạy theo thành tích bằng việc chỉ đưa các VĐV là sinh viên đúng nghĩa tham gia ở những đại hội tới?”. Ông Duy Anh trả lời ngay: “Nếu làm như vậy chúng tôi không bảo đảm an toàn cho SV vì nếu đưa SV thật sự tham dự đại hội như vậy rất nguy hiểm (?)”.

Tuy nhiên, tại buổi họp báo các thành viên BTC đại hội cũng đồng ý khi cho rằng đại hội phải là sân chơi của SV chứ không nên là sân chơi của những VĐV chuyên nghiệp. Theo Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Trần Văn Nhung, sân chơi SV phải phản ánh đúng thực trạng thể thao nước nhà. Do đó, sắp tới phải quan tâm đầu tư cho thể thao học đường.

TRẦN HUỲNH

Xấu hổ !

Tôi không quan tâm đến thể thao. Vậy mà mấy ngày nay loáng thoáng thấy đoàn thể thao SV VN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác ở Đại hội thể thao SV Đông Nam Á tôi cũng nôn nao.

Hôm qua, ngồi đọc kỹ Tuổi Trẻ ngày 22-12, tôi mới phát hiện những người tổ chức đã đưa “SV giả” (những vận động viên không tới đại học ngày nào) vào thi đấu.

Sự xấu hổ đã thay cho niềm tự hào và trầm trọng hơn nữa là nỗi lo âu lại xâm chiếm đầu óc, bởi đây đích thực là một dạng tiêu cực trong giáo dục từ cấp cao. Bởi thể thao hay bất cứ sinh hoạt nào tổ chức cho SV cũng đều là giáo dục. Đặc biệt trong thể thao SV, càng phải học tinh thần fair play cao đẹp. Thi đấu trong giới trẻ, ăn thua đâu có ý nghĩa gì mà phải chuộng thành tích!

Theo tôi, đây là một sai phạm nghiêm trọng mà Nhà nước phải đem ra kiểm điểm và nhân dân phải cùng nhau “lêu lêu mắc cỡ” một trận cho mấy ông chừa cái tật gian dối cho dù nhỏ hay lớn, với mục đích gì.

Buồn thật buồn.

Thạc sĩ NGUYỄN THỊ OANH


Quan chức Bộ Giáo dục nên cẩn trọng khi phát ngôn


Thanh Niên Online 00:28:04, 27/12/2006

Kính gửi: Ông Quách Tuấn Ngọc, Giám đốc TT Tin học - Bộ Giáo dục - Đào tạo.

Tôi thực sự bị sốc rất nặng sau khi đọc bài trả lời phỏng vấn của ông trên Tuổi Trẻ (Tuổi trẻ Online 25.12.2006).

1. Tôi sốc vì ông đã gọi một học sinh chưa đến 18 tuổi, sau khi đột nhập vào một trang web là phạm tội. Theo tôi được biết thì hiện nay em học sinh này chưa hề bị các cơ quan tố tụng áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự như: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà đã gọi là phạm tội thì tôi e là thiếu cẩn trọng.

2. Tôi sốc vì ông, với tư cách một quan chức của Bộ GD-ĐT, đã gọi phụ huynh và học sinh của mình là bố con chúng nó. Tôi nghe rất phản giáo dục. Có thể ông không thích cái cách mà học sinh góp ý về sự yếu kém của mình, nhưng trong lúc này với vai trò như một người phát ngôn của Bộ GD-ĐT mà ông lại dùng từ nó (nhiều lần) thì tôi có cảm giác đó là ngôn ngữ rất không thích hợp.

3. Tôi sốc vì thái độ vô trách nhiệm của ông, ông cho rằng các trang web của FBI, Microsoft... còn bị tấn công cho nên ông không cần bảo vệ đứa con của mình. Ông cấm tất cả chúng nó đụng đến con ông, nếu đứa nào đụng đến con ông là... ông kêu công an?! Tôi được biết, trong Khoa học pháp lý về tội phạm có đề cập rất nhiều đến khía cạnh nạn nhân. Tức là một phần của tội phạm nảy sinh từ sự chủ quan của nạn nhân, nạn nhân đã tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm nảy sinh. Trong trường hợp này thì rõ ràng ông đã làm ngơ và tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi cho hacker tấn công trang web của Bộ GD-ĐT khi tuyên bố nhà của mình, cửa mở nhưng không ai được quyền vào!? Có thể ông đúng dưới góc độ pháp luật, nhưng dưới khía cạnh trách nhiệm, khía cạnh thực tế... thì phải xem lại.

Có thể những gì tôi trình bày cũng rất sốc đối với ông, nhưng xin ông hãy cố đọc hết vì đó là thái độ của không ít người quan tâm đến giáo dục, quan tâm đến một thanh niên dại dột nhưng có khả năng (có thể sẽ bị thui chột)... và tôi chỉ là người đại diện để trình bày quan điểm này.

Phương Quyên (Lớp dân sự 23C, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh)

Xã Hội Dân Sự

http://www.ykien.net