Sự Kiện | Mục Lục | Xem tiếp | Trở lại
Đơn Tố Cáo Lê Hồng Hà |
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2001
v/v - Các cán bộ Công an Hà Nội vi phạm nghiêm trong luật pháp Nhà nước Kính gửi :Ông Tổng Bí thư Đảng CSVN và Bộ Chính trị
Ông Giám đốc Sở Công an Hà Nội 1. Tôi tên là Lê Hồng Hà, sinh năm 1926, tham gia cách mạng từ cuối năm 1944, tham gia Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, đã từng kinh qua các cương vị công tác : Phụ trách Trường Công an Trung ương, Chánh Văn phòng Bộ công an, Vụ trưởng Vụ nghiên cứu tổng hợp Bộ công an, Ủy viên Đảng Đoàn Bộ công an, Trưởng ban Thư ký khoa học của Ủy ban Khoa Học Xã Hội, Tổng thư ký của Ban dự thảo Bộ luật lao động, Chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước "Về phương hướng phát huy nguồn lao động giải quyết việc làm và hạn chế nạn thất nghiệp ở nước ta trong thập kỷ 1991 - 2000", v.v.., đã về hưu năm 1992, với lương hưu chuyên viên 8 cũ, tức là Cố vấn bậc 2 lúc đó. 2. Tôi viết đơn này để tố cáo với các Ông và các cơ quan pháp luật Nhà nước về hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của một số cán bộ Sở Công an Hà Nội đối với tôi trong đêm ngày 15/2/2001. Sự việc cụ thể như sau : Hồi 18h30 ngày 15/2/2001, 5 cán bộ Sở công an Hà Nội đi vào nhà tôi và với danh nghĩa "mời" một cách ép buộc đưa tôi về Sở công an Hà nội vì có việc khẩn cấp. Tôi nghĩ mình có quyền không đi, nhưng lại nghĩ rằng, vì công việc chung của công an, thì cũng nên đi đến Sở. 3. Bất ngờ, là khi tới Sở, thì 4 cán bộ công an liên tục hỏi cung tôi suốt từ 19h đến 22h30. Nội dung chủ yếu của việc hỏi cung là : Có người tố cáo ông Hồng Hà đã viết 1 tài liệu "Mấy điều chất vấn Ông Bộ trưởng Bộ công an Lê Minh Hương" và ông Hồng Hà đã đưa cho 1 người khác (tức là người tố cáo). Hiện nay nhà ông đang có tài liệu này. Tôi cũng hơi bị bất ngờ, vì tôi chưa được trông thấy tài liệu đó, không biết nó dầy mỏng ra sao, nội dung viết cái gì, có gì phạm pháp không mà cơ quan công an phải tập trung người đi hỏi cung ngay đêm hôm như thế này ? 4. Cán bộ hỏi cung liền đưa cho tôi xem tài liệu đó. Lúc đó tôi mới được thấy tài liệu có đầu đề "Mấy điều chất vấn Ông Bộ trưởng Bộ công an Lê Minh Hương". Đó chỉ vẻn vẹn có 1 trang đánh máy vi tính, cũng không có bản thảo viết tay nào kèm theo cả. Vì phải đọc nhanh trong phòng hỏi cung, nên tôi chỉ nhớ được đại thể mấy ý của tài liệu đó như sau :
a/ Đòi hỏi Ông Bộ trưởng công an cho biết vì sao có vụ nổi loạn đầu tháng 2/2001 ở khu vực Tây nguyên mà các cơ quan của Đảng, chính quyền, Công an đều bị bất ngờ. Với trách nhiệm của các cơ quan công an trong việc nắm tình hình chính trị ở địa phương ra sao ? Có cần rút kinh nghiệm gì không để đảm bảo được an ninh của đất nước trong thời gian tới ?
b/ Vì sao cơ quan công an Hà Nội lại bắt giữ nhà trí thức Thanh Giang đầu năm 1999, rồi khi phải trả lại tự do, không hề có lời xin lỗi ?
Vì sao công an Lâm Đồng lại khởi tố nhà trí thức Hà Sĩ Phu rồi khi phải đình chỉ điều tra cũng không hề có một lời xin lỗi ?
Vì sao công an lại đả kích các cán bộ trí thức có tâm huyết với đất nước.
c/ Vì sao khi công an Lâm Đồng phải trả lại tự do cho nhà trí thức Hà Sĩ Phu, thì Bộ công an lại chỉ đạo báo An ninh thế giới của Bộ liên tục viết một loạt bài nêu lên tội trạng của 1 loạt nhà trí thức yêu nước, chưa hề bị một toà án nào kết tội ?
Còn gì nữa tôi không nhớ rõ. 5. Với những câu hỏi của cán bộ điều tra tôi đã trả lời rõ ràng và dứt khoát những điều sau đây :Vì sao 1 tờ báo quan trọng của Bộ như tờ An ninh thế giới lại có thể vi phạm luật pháp Nhà nước ?
6. Tôi đã trình bày với các cán bộ điều tra rằng : Bộ trưởng Bộ công an cũng như các Bộ trưởng khác trong Chính phủ, kể cả Thủ tướng và Chủ tịch nước đều là công bộc, là đầy tớ nhân dân theo như Bác Hồ đã nói. Nếu Nhân dân "chất vấn" các Ông Bộ trưởng, chất vấn các công bộc của nhân dân, thì đó hoàn toàn là 1 việc làm bình thường, hợp pháp, đúng với quyền và nghĩa vụ của người công dân. Và như thế mới chứng tỏ chế độ ta thực sự là 1 chế độ dân chủ, chứng tỏ ý thức trách nhiệm công ano của người dân đối với công việc của Đất nước. Còn việc người viết có ký tên hay không, ký tên thật hay tên giả, là tuỳ theo cách suy nghĩ của mỗi người và không khí dân chủ trong xã hội. Đó không phải là dấu hiệu phạm pháp. Những ý kiến chất vấn các quan chức của Nhà nước có thể có cái đúng, có cái sai, có thể đúng một phần, sai một phần, v.v..., vì các công dân không thể có điều kiện hiểu vấn đề một cách toàn diện được. Đối với các ý kiến chất vấn, tôi nghĩ thái độ của các quan chức Nhà nước phải là hoan nghênh, cám ơn, cần trình bày giải thích và thuyết phục nếu người chất vấn có gì sai sót. Nội dung những điều đã nêu trong tài liệu "Mấy chất vấn đối với Bộ trưởng Lê Minh Hương" đều là những ý kiến đầy tinh thần trách nhiệm, có ý thức xây dựng, không hề có ác ý. Nếu cơ quan công an lại đi truy lùng, bắt giữ, khám xét người nào chất vấn Bộ trưởng Bộ công an, thì đây là 1 hành động ngu xuẩn, vì nó phơi bầy chế độ ta là không có dân chủ, rằng cơ quan công an tự bộc lộ bản chất phản dân chủ của mình. 7. Dù tôi trình bày rất thẳng thắn như trên, các cán bộ điều tra Sở công an Hà Nội vẫn khẳng định rằng ở nhà tôi nhất định có tài liệu nói trên và quyết định phải khám xét ngay trong đêm đó để tìm cho kỳ được tài liệu đó. Tôi đã khuyến cáo rằng việc khám như vậy là hoàn toàn trái pháp luật. Nhưng lãnh đạo Sở công an Hà nội đã huy động 10 cán bộ tức tốc tiến hành khám xét nhà tôi suốt từ gần 23h ngày 15/2 cho tới gần 1h sáng ngày 16/2/2001. Trong khi chưa có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị công ann, cán bộ công an Hà Nội tự ý quyết định khám xét, mà lại khám xét khẩn cấp buổi đêm là hoàn toàn trái với Bộ luật Tố tụng hình sự. Nhưng cuối cùng, các cán bộ công an không tìm thấy tài liệu "Mấy điều chất vấn Bộ trưởng Lê Minh Hương" tại nhà tôi, dù chỉ là 1 bản và cũng không có bản thảo viết tay nào cả. Để tránh bẻ bàng, các cán bộ công an khi đi khám xét đã tùy tiện lấy đi 1 loạt tài liệu nghiên cứu của tôi và của các bạn bè gửi đến cho tôi, niêm phong trong 1 hộp cacton lớn mà không hề giải thích lý do vì sao lại phải lấy đi các tài liệu đó. Cán bộ công an tự cho mình quyền tịch thu bất cứ tài liệu nào theo ý mình. Đó là 1 thái độ sằng bậy, bất cần pháp luật, bôi xấu cơ quan công an nhân dân. Thưa các Ông, Tôi đã trình bày tóm tắt hành vi phạm pháp của 1 số cán bộ Sở công an Hà Nội, và tôi xin có mấy kiến nghị như sau với tư cách một công dân của nước CHXHCNVN, được Hiến pháp và Bộ Luật Tố Tụng của nước ta bảo vệ : 1 - Các cơ quan có trách nhiệm ở Trung Ưong và Hà Nội cho tiến hành kiểm tra sự việc nói trên. 2 - Thi hành xử lý kỷ luật các cán bộ có sai phạm trên. Nếu đúng, đề nghị phải truy tố để bảo vệ nền Pháp chế của ta, bảo vệ chế độ dân chủ ưu việt của nước ta. 3 - Đặc biệt tôi mong Ông Bộ trưởng Bộ công an Lê Minh Hương và Ông Giám đốc Sở công an Hà Nội Phạm Chuyên hãy đình chỉ ngay tức khắc hành động vi phạm pháp luật của 1 số cán bộ công an Hà nội để bảo vệ uy tín của nghành Công an, chỉ thị cho cơ quan công an Hà nội phải trao trả cho tôi các tài liệu đã bị thu giữ một cách tuỳ tiện, vô cớ. 4 - Công an Hà Nội phải đến xin lỗi tôi và gia đình tôi, và các cán bộ địa phương vì đã phạm phải những sai lầm nói trên. Tôi tin rằng các cơ quan ở Trung Uơng sẽ nghiêm minh tra xét vụ này để bảo vệ chế độ XHCN tươi đẹp của chúng ta, nhất là khi sắp tiến hành Đại Hội 9 của Đảng.a/ Tôi không hề thảo văn bản này. Rõ ràng là chẳng hề có bản thảo viết tay nào của tôi cả.
b/ Tôi chưa có bản tài liệu này và cũng không có ở nhà.
c/ Tôi chưa chuyển nó cho ai cả.
Kính thư,
Lời Phản Kháng Của Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết Tại Việt Nam Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết |
Xét rằng :
Quyết định số 401/QĐUB đề ngày 26 tháng 2 năm 2001 của giới cầm quyền cộng sản tại Việt Nam, tỉnh Thừa Thiên ra lệnh quản chế linh mục Nguyễn Văn Lý, thư ký Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết tại Việt Nam hai năm không xét xử là một hành vi trắng trợn chà đạp quyền tự do tín ngưỡng, là quyền tối thiêng liêng của con người, đồng thời là một hiện tượng thô bạo, quái dị chưa từng thấy trong những xã hội phát triển, văn minh của nhân loại ngày nay.
Xét rằng :
Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã ký kết vào Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23/3/1976, lại ngang nhiên vi phạm nghiêm trọng điều 18 và 19 của bản Công Ước này qua nhiều quyết định quản chế các nhân vật bất đồng chính kiến tại Việt Nam, là những hành động bất công và tàn nhẫn đối với nhân dân trong nước, cũng như khinh thường nền công lý, tinh thần tự do nhân đạo của thế giới văn minh ngày nay đáng bị lên án trước công luận quốc tế.
Xét rằng :
Chiến dịch chụp mũ linh mục Nguyễn Văn Lý trên các cơ quan truyền thông báo chí của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam trong các ngày vừa qua là những hiện tượng xấu xa, cố hữu của một chế độ từng tự xưng là " đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh" đã tự biểu lộ cái tính hẹp hòi để hạ thấp giá trị của đảng Cộng Sản Việt Nam mà thôi.
Bởi các lý lẽ trên, Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết tại Việt Nam cực lực phản đối và đòi hỏi giới cầm quyền Cộng Sản Việt Nam :
1 - Phải thu hồi lệnh quản chế hai năm đối với linh mục Nguyễn Văn Lý, thư ký HĐLTĐK tại Việt Nam ; không tái diễn hành vi này trong chính sách cai trị tại Việt Nam. Hội Đồng sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để đối phó với hành vi nghiệt ngã này.
2 - Chấm dứt ngay mọi thủ đoạn chụp mũ với linh mục Nguyễn Văn Lý. Càng xuyên tạc, càng bịa đặt, đảng CSVN càng để lộ chân tướng độc tài đảng trị và tinh thần bất khoan dung đối với các tôn giáo, đối với những nhân vật bất đồng chính kiến.
3 - Phải tôn trọng các điều khoản đã quy định trong Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền vì CSVN đã ký gia nhập vào công ước này từ 24/9/1982. Mọi vi phạm của chế độ Cộng sản Việt Nam đối với Công Ước này là một điều không thể chấp nhận trong một xã hội loài người đang tiến nhanh đến tự do, công bằng và văn minh.
Nhân danh Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết tại Việt Nam, chúng tôi tha thiết và thành khẩn kêu gọi Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, các tổ chức Quốc Tế Nhân Quyền, chính phủ và quốc hội trong các quốc gia tự do trên thế giới, các nhân vật có thiện chí yêu chuộng tự do và quyền làm người, nhất là toàn thể đồng hương ở hải ngoại hãy nỗ lực dùng mọi phương tiện, mọi uy tín can thiệp với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải :
- hủy bỏ quyết định bất công, chủ trương nghiệt ngã đối với linh mục Nguyễn Văn Lý ;
- thủ tiêu quyết định số 31/CP của chế độ cầm quyền Cộng Sản Việt Nam là một văn bản quái ác và tàn nhẫn trắng trợn chà đạp công lý chưa hề thấy trong những xã hội văn minh.
Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết tại Việt Nam quyết tâm tranh đấu cho tự do tôn giáo tại Việt Nam và quyết tâm phát triển Hội Đồng cho đến thắng lợi cuối cùng.
Việt Nam ngày 6 tháng 3 năm 2001.
Thay mặt Hội Đồng Liên Tôn Đoàn Kết
Phó Chủ Tịch : Lê Quang Liêm
Cố Vấn : Linh mục Chân Tín
Khi Nhà Báo Trở Thành Quan Tòa Mai Thái Lĩnh |
Một là, tôi hoàn toàn không muốn diễn ra một phiên tòa ; nơi đó nổ ra một cuộc đấu tranh gay gắt một mất một còn giữa một bên là anh Hà Sĩ Phu và tôi, và bên kia là công tố viên đại diện cho đảng cầm quyền. Đó là điều tôi thật sự không muốn, vì từ trước đến nay tôi vẫn mong muốn có một sự đổi mới bắt đầu từ Đảng CSVN đang cầm quyền để tránh những xáo trộn không cần thiết, không có lợi cho đất nước trong tình hình hiện nay. Dù sao, đảng cầm quyền cũng là đảng của cha tôi, chú tôi, và là đảng mà tôi đã từng gắn bó trong thời tuổi trẻ (mặc dù tôi chưa bao giờ gia nhập).
Hai là, đã một thời bị nhiễm cái tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Marx, càng lớn tuổi, càng suy nghĩ kỹ, tôi càng thiên về con đường cải cách ; bởi vì chỉ có đổi mới từng bước, thay đổi một cách tiệm tiến mới có thể làm cho xã hội thật sự tiến bộ về mọi mặt. Đã qua rồi cái thời hăng say hô hào đập phá, đập phá chán rồi không biết xây cái gì trên cái đống đổ nát trước mắt mình. Tôi đã chọn giải pháp thỏa hiệp là xin miễn trách nhiệm hình sự. Đó cũng là điều có thể gây hiểu lầm nơi một số người bạn của tôi. Tuy nhiên, theo tôi, đó là giải pháp có thể tạo điều kiện cho một sự đối thoại thật sự giữa những người yêu nước, yêu dân chủ đối với đảng cầm quyền. Có thể tôi ngây thơ, cả tin , nhẹ dạ, và phải trả giá cho cách chọn lựa này. Thế nhưng, tôi vẫn tin rằng trong Đảng CSVN còn có rất nhiều người thật sự mong muốn đổi mới, thật sự yêu dân chủ, và sẵn sàng đối thoại với chúng tôi, là những người đã từng một thời gần gủi với đảng cầm quyền. Tôi cho rằng nếu các cơ quan pháp luật thực hiện giải pháp này một cách có thiện ý thì mọi sự sẽ diễn biến tốt đẹp. Hơn nữa, đã qua rồi cái thời các cơ quan pháp luật có thể sử dụng lời nhận tội để kết tội bị can, bị cáo. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, đã ghi rõ : "Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội" (điều 54). Đó không phải là một điều luật tiến bộ hay sao ? Đáng tiếc là sự việc đã không diễn ra một cách êm đẹp như tôi đã nghĩ. Trong khi cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra, miễn truy tố, miễn trách nhiệm hình sự cho tôi và anh Hà Sĩ Phu thì gần như đồng thời, nhà báo Nguyễn Như Phong lại sử dụng báo chí làm một phiên toà xử án chúng tôi về mặt dư luận. Trong phiên tòa báo chí này, nhà báo Nguyễn Như Phong vừa đóng vai công tố, vừa là luật sư, vừa là thẩm phán kiêm hội thẩm. Sau khi đã mạt sát tôi và Hà Sĩ Phu, gọi chúng tôi là những kẻ phản bội Tổ quốc, quan tòa Như Phong lại tỏ ra nhân đạo, độ lượng, mở ra cho chúng tôi một hướng xử lý nghiêm nhưng sẽ mở cho họ cơ hội mới. Nhà báo (đúng hơn là nhà văn chuyên dựng chuyện hư cấu) Nguyễn Như Phong đã tạo ra một truyện hình sự feuilleton thoạt xem thì khá hấp dẫn nhưng đọc kỹ thì dễ nhận thấy sự lủng củng, thiếu nhất quán. Cái đảng chính trị mà tôi và anh Hà Sĩ Phu thừa lệnh nước ngoài lập nên đó cuối cùng chỉ có hai người : tôi và anh Hà Sĩ Phu. Có lẽ thấy cái đảng hai người ấy thiếu tính thuyết phục, nên trong hồi hai, anh Như Phong đã đưa thêm vào đó hai nhân vật nữa (Tiêu Dao Bảo Cự và Nguyễn Thanh Giang) để nâng lên thành đảng bốn người. Nhưng như vậy vẫn còn quá ít, nên anh Như Phong còn nói thêm : và một số người khác. Người đọc thấy cái đảng hai người (hay cái đảng bốn người này) hoạt động khá nực cười : nhận tiền thì chỉ vài trăm đô-la (không bằng một bữa nhậu của các cán bộ, đảng viên tham nhũng), hoạt động quanh đi quẩn lại chỉ xoay quanh việc ký kết ước 2000 (mà trong các xã hội dân chủ, thực chất chỉ là một thứ kiến nghị, thỉnh nguyện thư chẳng làm chết một ai). Hình như anh Như Phong đánh giá quá cao vai trò của những tuyên ngôn, tuyên bố. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản ra đời vào năm 1848, từ đó đến nay tính ra đã hơn 150 năm ; thế nhưng chủ nghĩa tư bản đâu đã sụp đổ ? Quyển I bộ Tư bản, tác phẩm đồ sộ nhất của Karl Marx, được xuất bản lần đầu vào năm 1867, trong đó có câu văn nổi tiếng : "Giờ tận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm". Thế nhưng, trong thực tế, cái giờ tận số đó đã kéo dài đến non một thế kỷ rưỡi, và không biết bao giờ mới điểm xong. Xem như thế, thì tuyên ngôn hay tuyên bố có gì là gây nguy hại đâu, nhất là những tuyên ngôn, tuyên bố ôn hoà của những người trí thức, văn nghệ sĩ đấu tranh cho dân chủ ? Để tăng thêm tính hình sự, anh Như Phong đã nâng " Chia tay ý thức hệ" của Hà Sĩ Phu lên thành tuyên bố chống Đảng, chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam quyết liệt nhất. Còn kết ước 2000 thì được coi là lời hô hào tập hợp lực lượng chống phá Nhà nước CHXHCNVN. Cho thêm chút mắm muối về những thứ như là Hoàng Cơ Minh dẫn quân xâm nhập vào Việt Nam qua con đường Lào, rồi đến cái gọi là cơ cấu bộ máy cho "chính quyền Việt Nam mới",v.v... (là những thứ chẳng ăn nhập gì đến vụ án của chúng tôi), anh Như Phong đã cố biến chúng tôi thành những tay chân của C.I.A. Quả thật, nếu đúng như vậy thì tôi và anh Hà Sĩ Phu đáng bị đem bắn bỏ, chứ còn "tha thứ" làm gì ? Tôi và anh Hà Sĩ Phu, suy cho cùng, chỉ là những người làm tư tuởng chứ không làm chính trị. Nhưng vì chủ nghĩa Mác-Lênin đem ghép chính trị và tư tưởng làm một, không phân biệt nhà tư tưởng và nhà chính trị, cho nên mới sinh ra những vụ án trí thức, như vụ án "phản bội Tổ quốc" mà tôi và anh Hà Sĩ Phu là nạn nhân. Trên thế giới, từ xưa đến nay, có những người coi chuyện chính trị là thứ yếu, tư tưởng mới là chủ yếu. Ví như John Locke, Montesquieu, J.J.Rousseau, họ đều là những nhà tư tưởng bàn chuyện chính trị, chứ họ đâu có phải là nhà chính trị ? Ngay cả Khổng Tử, mặc dù có lúc tham chính, nhưng ông đâu có coi chuyện tham chính là mục đích cao nhất của đời ông ? Nếu Khổng Tử coi trọng chuyện làm chính trị thì vị trí của ông trong lịch sử có khác nào Quản Trọng hay Tử Sản ? Không rõ anh Như Phong, người vốn tự hào là am hiểu lịch sử và văn hóa phương Đông, có nắm rõ được điều này hay chăng ? Anh Như Phong được đi Tây, lại am hiểu Mỹ. Tôi thì chỉ biết chuyện đời xưa. Thời trung cổ, nhà vật lý học Galileo đã phải nhận tội trước Tòa án pháp đình vì đã dám cả gan ủng hộ thuyết của Copernicus cho rằng trái đất quay quanh mặt Mặt trời, một tư tuởng bị coi là tà thuyết, vì thời đó người ta còn tin vào thuyết trái đất đứng yên. Nhưng có một câu thành ngữ tiếng Ý nổi tiếng mà người ta cho rằng khi bước ra khỏi Tòa, Galileo đã nói : "Eppur, si muove !" (Tuy nhiên, nó vẫn quay!). Nhà báo Nguyễn Như Phong xem ra rất thích làm quan tòa. Thế nhưng, cho dù anh Như Phong có thành công trong việc dùng độc quyền báo chí để kết tội tôi và bạn bè tôi trước công luận, hoặc giỏi hơn nữa, có mở được một phiên tòa thật sự để gán cho chúng tôi những bản án nặng nề, thì những bản án ấy cũng không thể làm cho cái đúng trở thành cái sai hay cái sai trở thành cái đúng được. Bởi vì, quyền lực có thể sản sinh ra nhiều thứ, nhưng không bao giờ có thể sản sinh ra chân lý và tình yêu ! Tôi viết bài này với hy vọng bài sẽ được đăng trên tạp chí "An ninh Thế giới", hoặc trên một tờ báo nào đó tôi đã từng cộng tác. Nếu không được như vậy, e rằng tôi phải hoài nghi cái tính chất tự do của nền báo chí hiện nay. Cuối cùng, tôi thành thật xin lỗi các bạn tôi vì tôi xưng hô với anh Như Phong theo cùng một cách như với bạn bè. Nhưng vốn là một nhà giáo, từ nhỏ lại được cha mẹ dạy cho cái phép lịch sự, tôi không quen dùng những từ có tính chất miệt thị, lăng mạ để gọi ai, dù người đó đối xử không phải với tôi. Hơn nữa, tôi vẫn nhớ dòng chữ mà tôi nhìn thấy trong chùa ngày tôi còn nhỏ : "Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan ; lấy oán báo oán, oán ấy chồng chất". Ấu đó cũng là cái thói quen tiểu sư sản mà suốt đời tôi không thể nào bỏ được ! Đà Lạt, những ngày đầu Xuân Tân Tỵ 2001 Mai Thái Lĩnh Kính gửi :Giải Quyết Chính Tặc Nguyễn Đan Quế |
BS Nguyễn Đan Quế
Tập Hợp Vì Nền Dân Chủ
Việt Nam, ngày 21-02-2001
Xã hội VN đang phải đau đớn lột xác trong 1 thế giới đầy sôi động vì tiến bộ.
Tại sao vậy ? Do những người lèo lái thiếu khả năng và uy tín, tầm nhìn hạn chế và luôn luôn chạy theo đuôi những biến chuyển xã hội. Xu thế thời đại đào thải cái cũ của thời kỳ chiến tranh lạnh, trong đó đảng CSVN là 1 con bài mù quáng. Cái mới ngược hẳn bản chất của chế độ khiến Bộ Chính Trị lúng túng không biết xoay sở ra sao để thích nghi mà vẫn duy trì được đảng trị. Trên mặt tuyên truyền, chủ nghĩa Cộng sản phá sản nhưng không có gì thay thế, nên vẫn phải cố bám lấy và thêm vào cái đuôi dài lòng thòng là chủ nghĩa Mác-Lênin - tư tưởng Hồ Chí Minh. Thật khôi hài khi sử dụng cái phá sản để chỉ đạo xã hội đi vào cái mới. Và để bịp quần chúng vẫn tin theo, Bộ Chính Trị làm ra vẻ chủ động - sự thực bị động thê thảm - trong tiến trình đổi mới. Lãnh đạo mà không biết hướng dẫn đi đầu, khiến phát triển trì trệ và công dân phải tự lo tự phát. Do đó mà thất nghiệp cao, chăm sóc sức khỏe bết bát, giáo dục bất cập; và nhất là không thể nhanh chóng đưa Việt Nam hội nhập vào Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Kinh Tế Toàn Cầu (WTO).
Hay nói cách khác, đã đến lúc dân tộc ta phải dứt khoát thái độ : hoặc cam chịu phát triển chậm so với tiềm năng thực sự của mình hoặc đấu tranh buộc Bộ Chính Trị đảng CSVN phải đi theo xu thế mới của thời đại là Dân Chủ, Nhân Quyền, Tiến Bộ Xã Hội và quần chúng phải dành quyền bầu ra những người lãnh đạo mới có khả năng, tư cách và nắm vững qui luật đi vào cái mới.
Rõ ràng sức mạnh quần chúng giữ vai trò chính yếu ở khúc quanh lịch sử này.
oOo
Đại hội 9 đảng CSVN trước định vào tháng 3-2001, nay dời lại sang tháng 4, diễn ra trong bối cảnh mâu thuẫn giữa dân & lãnh đạo đang lên đến đỉnh điểm, Bộ Chính Trị cố gắng bằng mọi giá và sẵn sàng dùng bạo lực níu kéo quyền hành, bất chấp lợi ích dân tộc.
Bản báo cáo để thông qua trong đại hội không đưa ra được gì mới, vẫn chỉ nhắc lại những luận điểm cũ rích nguy hiểm mà chúng tôi xin kể ra như sau :
- đầu tiên là : chủ nghĩa Mác-Lenin-tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục là kim chỉ nam. Tôn thờ 1 chủ nghĩa ngoại lai đã bị Liên Xô & Đông Ấu vứt bỏ. Người dân không hiểu sao sự u mê lại có thể đến mức như vậy. Càng ngày càng nhiều người khủng hoảng và công khai chống đối.
- thứ đến : kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó khu vực quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo mặc dù làm ăn thua lỗ. Hiện nợ xấu khó đòi lên tới 4 tỷ rưỡi đô la theo tính toán của các chuyên gia quốc tế. Khu vực tư nhân bị kiểm soát không có cơ hội chạy hết công suất mà đã đóng góp gần 40% tổng sản lượng quốc gia. Nhà nước vẫn nắm nhiều, chỉ để tư nhân làm những cái không quan trọng, là sức cản lớn nhất ảnh hưởng rộng khắp trên tất cả những cố gắng khác của nền kinh tế quốc dân.
- tiếp theo : là kêu gọi áp dụng dân chủ tập trung trong bộ máy hành chánh & trong tổ chức nội bộ đảng. Khi quyền quyết định đã tập trung trong tay 1 thiểu số thì còn gì dân chủ nữa, họa chăng là dân chủ giả hiệu. Có thể góp ý đề nghị thay đổi 1 vài chữ, 1 vài câu, nhưng cốt lõi vấn đề thì phải chấp nhận, vì làm gì được khi cả bộ máy truyền thông đại chúng độc quyền khổng lồ khua chiêng gõ trống.
- ngoài ra, có tin về thay đổi nhân sự và trẻ hóa hàng ngũ lãnh đạo (dưới 65 tuổi trừ trường hợp đặc biệt) để mang bộ mặt tiến bộ. Nhưng vấn đề không phải là tuổi tác, mà là cần 1 suy nghĩ mới khác hẳn chủ nghĩa CS lỗi thời, nên những người CS trẻ bị điều kiện hóa bởi lớp đàn anh sơ cứng khó có cơ may đáp ứng với thay đổi gốc rễ do tình hình đòi hỏi. CS đang âm mưu cố gắng truyền thống trị cho con cháu để bảo vệ quyền lợi gia đình, bè phái theo kiểu vua chúa thời phong kiến và ban cho đảng viên nhiều đặc quyền đặc lợi để họ trung thành.
Theo cố tật bản báo cáo vẫn dài lê thê, đi vào những tiểu tiết, cố tình làm người đọc điên đầu mệt mỏi, thà đừng tìm hiểu còn hơn bị đau óc. Hơn nữa những chữ nhẩy múa trên giấy và thực tế khác nhau xa, khác đến nỗi người dân cảm thấy chẳng mấy liên quan đến cuộc sống của họ. Chưa bao giờ người dân lại thờ ơ với sinh mạng của đảng như lúc này.
Để đối phó với tình thế tiến thoái lưỡng nan, Bộ Chính Trị nhập nhằng cho thi hành 1 chính sách 2 mặt để mua thời gian, chờ xem may ra có yếu tố mới bất ngờ xảy ra có lợi cho họ chăng :
- một mặt, tiếp tục mở cửa từ từ, nghe ngóng để cố thỏa mãn các nhà đầu tư thông qua thành phần kinh tế tư nhân có kiểm soát với công đoàn là chi bộ đảng. Nhưng rất tiếc nếu không có luật đầu tư minh bạch, công đoàn tư, tự do báo chí và nhất là sự hợp tác hiệu quả giữa chủ - thợ trên căn bản tôn trọng quyền lợi người lao động thì sức sản xuất yếu & chất lượng hàng không tốt khó cạnh tranh trên thị trường. Liệu tư bản ngoại quốc có thể làm ăn thoải mái với quốc doanh hay khu vực tư nhân bị đảng kiểm soát như hiện nay không ? Và khi gặp khó khăn với chính quyền, đảng có thể giật dây công đoàn chống đối thì làm sao ?
- mặt khác, song song với việc thỏa mãn các điều kiện của giới đầu tư, Bộ Chính Trị đảng CSVN đang chơi lá bài phát triển để giữ độc quyền chính trị bằng cách ra sức củng cố bộ máy đảng ; và thông qua đảng chi phối quốc hội, tòa án, viện kiểm sát nhân dân, nắm chặt truyền thông đại chúng, công an - quân đội. Đây là ván bài một ăn hai thua để duy trì đảng trị trong tình cảnh hiện nay. Nhưng CS sở trường về bạo lực, sở đoản là làm kinh tế. Bộ Chính Trị diễn xuất có tài phù thủy pha trộn CS với Tư Bản ra 1 cái chúng gọi là 'phát triển theo định hướng XHCN', xây dựng XHCN với phương pháp & thành quả của tư bản chủ nghĩa. Cho dân là ngu không biết gì, chúng muốn nói gì thì nói cũng phải chịu, chỉ có tụi chúng ngồi trên chóp bu mới có quyền nói chính trị và làm ăn đầu tư với ngoại quốc, dân đen chờ chúng thầu được chia cho việc gì thì làm việc nấy, không được quyền thắc mắc, mọi làm ăn hợp tác giữa nhân dân ta với ngoại quốc phải thông qua chúng với tư cách là cai thầu.
Không biết bao nhiêu ý kiến trong nước, ngoài nước chỉ ra rằng : hướng đi bắt buộc của VN phải là mở rộng tự do kinh tế hơn nữa và cải cách chính trị phù hợp với xu thế thời đại. Không có chuyện kinh tế thị trường nuôi dưỡng độc tài Cộng sản. Hai thứ nghịch nhau như nước với lửa.
Hợp tác cấp vùng ASEAN, liên vùng APEC và hội nhập kinh tế thế giới (WTO) là xu thế tất yếu. Trong nước quần chúng chán ghét chính quyền tham nhũng, vô hiệu năng. Liệu Bộ Chính Trị đảng CSVN có thể đi ngược nguyện vọng quần chúng & bất chấp xu thế thời đại, duy trì độc tài đảng trị 1 thời gian dài nữa không ?
Bộ Chính Trị đảng CSVN sẽ thất bại nặng khi định mang sức cần cù lao động của dân ta đi đấu thầu đổi lấy đầu tư ngọai quốc, bởi lẽ thế giới hết chia thành 2 khối đối đầu, nên không cần có cai thầu nữa (cả ý thức hệ lẫn kinh tế). Trên phạm vi toàn cầu, chuyển giao kỹ nghệ hoá của các nước giầu cho các nước nghèo đang tiến vô làm ăn trực tiếp với khu vực tư nhân của hạ tầng cơ sở xã hội các nước nghèo để có thể thực thi các chính sách lấp bớt hố xa cách giàu - nghèo trên thế giới 1 cách hiệu quả hơn, không còn bị động vì phụ thuộc vào giới cầm quyền của các nước kém mở mang.
oOo
Thật thế, ngược giòng lịch sử Việt Nam cận đại chúng ta có thể tóm tắt như sau :
Sau thế chiến II, thế giới chia thành 2 khối Cộng Sản -Tư Bản. Khi Pháp trở lại Việt Nam, Hồ Chí Minh tung lời kêu gọi kháng chiến cuối năm 1946. Từ 46-49 Việt Minh rất yếu, nhưng khi Mao lên ở Hoa Lục giúp CSVN, mới đủ sức đánh Điện Biên Phủ. ĐBP thất thủ, Pháp ký ngay Hiệp Định Geneva 1954 chia đôi Việt Nam ở vĩ tuyến 17, nhưng chỉ nhường cho Mỹ vô miền Nam Việt Namrtfgvb(', còn chủ trương trung lập Lào & Campuchia để duy trì quyền lợi của mình.
Hiệp định Geneva qui định 2 năm sau tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nhưng đã không xảy ra vì chi phối của 2 khối CS-TB quá nặng và phong trào trung lập lại quá yếu. Từ 1956-1960, cả 2 miền Nam-Bắc đều không có đường lối rõ ràng nào để thống nhất. Đến đầu 1960, Trung Quốc & Liên Xô giúp Hồ Chí Minh phát động chiến tranh giải phóng miền Nam Việt Nam.
20-12-1960 Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN ra đời, chiến tranh bắt đầu với cường độ ngày càng gia tăng khốc liệt cho đến Tết Mậu Thân.
Từ đầu 1968 -1972 quan hệ giữa Mỹ với thế giới CS có nhiều thay đổi mang tính cách chiến lược : ký thông cáo chung Thượng Hải với Trung Quốc (28-2-1972) & tài giảm võ khí chiến lược ABM với Nga (26-5-1972), bắt đầu khởi động tiến trình chuyển hướng từ đối đầu Đông-Tây sang hợp tác Bắc-Nam, cho phép Mỹ rút ra khỏi VN với Hiệp Định Paris 1973, chứ không phải là : không có thế chiến lược toàn cầu mới mà trên chiến trường cán cân lực lượng quân sự nghiêng về phía CS, dẫn đến cái gọi là 'đại thắng mùa xuân' năm 1975, rồi chiến thắng đó mới làm thay đổi chiến lược của các siêu cường.
Một khi cuộc chiến không còn cần thiết cho cả 2 khối Tư Bản lẫn Cộng Sản, sự ra đi của các chính quyền Quốc gia lẫn Cộng sản là tất yếu & rồi đây 1 thể chế mới sẽ ra đời do bầu cử công bằng & tự do để Việt Nam tự phát triển, không còn can thiệp quân sự của nước ngoài như trong chiến tranh, thay vào đó là phát triển trong khuôn khổ hội nhập kinh tế vùng (ASEAN) & kinh tế thế giới (WTO).
Ngày 30-4-1975 chấm dứt hoàn toàn dính líu quân sự của khối tư bản cùng vai trò của phe quốc gia, kế tiếp là giai đoạn khối CS thôi không hậu thuẫn bạo lực giúp đảng CSVN. Trong đó phải kể đến cộng đánh cộng khi VN tiến quân sang Campuchia & chiến tranh Trung-Việt 2-1979. Không có giúp đỡ từ bên ngoài, đảng CSVN mất dần khả năng lãnh đạo & thế đứng trên trường quốc tế, và thất bại liên tiếp trong hòa bình.
Thêm nữa, cuối thập kỷ 80 khi Liên Xô & bức tường Bá Linh sụp đổ, chiến tranh lạnh tàn lụi dần. Trật tự kinh tế thế giới mới hình thành, với phân chia lao động quốc tế : các nước giàu làm kỹ thuật cao, chuyển giao kỹ nghệ hóa cho các nước nghèo. Điều hòa hoạt động là tổ chức thương mại thế giới WTO, chủ trương tự do hóa kinh tế toàn cầu dựa trên luật cung-cầu & tự do cạnh tranh. Những biến chuyển lịch sử này là bản án khai tử ý thức hệ CS & kinh tế chỉ huy đi kèm.
Chiến tranh Việt Nam đã qua đi hơn 1/4 thế kỷ. Thế giới thay đổi hẳn. Toàn dân ta ở thời điểm này mới là người có quyền quyết định hướng phát triển VN phù hợp với tình hình mới của thế giới. Những tiếng nói ôn hòa hợp lý đang được mọi người lắng nghe, tổng quát trong lòng dân tộc ta xuất hiện càng ngày càng rõ nét 3 khuynh hướng : khuynh hướng hữu ôn hòa tiến bộ, khuynh hướng tả ôn hòa tiến bộ (2 khuynh hướng này do lịch sử để lại) và 1 khuynh hướng mới ra đời do nhu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh quốc tế hoàn toàn khác trước. Cả 3 khuynh hướng này sẽ sát cánh đưa VN mạnh tiến trong tương lai.
Tóm lại, thực chất đại cuộc hôm nay là : làm sáng tỏ ngay hướng đúng nhất để phát triển đất nước trong thế giới mới ngày nay và cùng quần chúng mà tiên phong là thế hệ trẻ Nam Bắc trong ngoài viết trang sử này.
Làm phá sản lá bài 'phát triển theo định hướng XHCN' của Bộ Chính Trị đảng CSVN bằng những phương pháp đấu tranh hòa bình dân chủ. Kinh tế tự do, Nhân Quyền & Dân Chủ là lợi khí chiến lược phải được sử dụng mạnh mẽ và rộng rãi.
Sau bao nhiêu thập niên lải nhải tuyên truyền tiến lên xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa từ năm 1954 trên 1/2 nước ở miền Bắc và sau 1975 trên cả nước, kinh tế do nhà nước nắm chỉ phát triển trên giấy tờ, luôn vượt chỉ tiêu, vượt kế hoạch Bánh vẽ không còn lôi kéo được ai mà còn bị quần chúng chán ghét. Chưa bao giờ đảng CSVN cảm thấy cô đơn như lúc này.
Chịu đựng dài dài nghèo đói chỉ vì chủ nghĩa, để rồi thấy Liên Xô & Đông Ấu rã đám, còn Trung Quốc đang chuyển mình theo tư bản, đảng CSVN vỡ mộng, bơ vơ, không nơi bám víu. Năm 1986 Bộ Chính Trị buộc phải rút quân khỏi Campuchia và mở cửa với thế giới bên ngoài, mang nặng nỗi sợ hãi mất độc quyền lãnh đạo. Kết quả là các nhà đầu tư thất vọng khi hợp tác với các công ty quốc doanh do nhà nước nắm, VN không lôi kéo được các nhà đầu tư như các nước khác trong vùng, vốn đã bỏ xa Việt Nam cả thập kỷ.
Tìm cách sống còn, Hà Nội cố thương thuyết trên thế yếu thương ước Mỹ-Việt, đã ký ngày 13-7-2000 hiện đang chờ quốc hội 2 nước thông qua. Tháng 11-2000 TT Mỹ Clinton viếng thăm Hà nội, cổ vũ thế hệ trẻ chiếm 60% dân số trong vai trò quyết định tương lai VN.
Khi mở rộng cửa đón nhận đầu tư & trao đổi thông tin-văn hóa, độc tài đảng trị sẽ lâm nguy vì phải tuân theo các qui luật của tự do cạnh tranh và sức hấp dẫn của trào lưu Dân Chủ đối với giới trẻ. Hiện Bộ Chính Trị đang chia rẽ trầm trọng, cấu xé nhau giữa bảo thủ & cải cách. Khi quyết định buộc xã hội tuân theo nguyên tắc mà chúng coi là thiêng liêng cho những gì đã đạt được, bọn thủ cựu đang ra sức mở chiến dịch 'Cần Đảng', dựng những xác chết Mác, Lênin, Hồ Chí Minh làm thần tượng. Trong khi nhóm cải cách không có suy nghĩ đúng về tầm mức thay đổi trên thế giới, không có cơ may có được hậu thuẫn quốc tế (nội bộ canh chừng nhau), thiếu táo bạo và ý chí chính trị cho 1 thay đổi cần thiết của toàn xã hội ở vào thời điểm nóng bỏng hiện nay. Đảng không có phương hướng, tư tưởng lung lay, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, lý luận vá víu chẳng dính dáng đến thực tế hàng ngày ! Tập đoàn Bộ Chính Trị chia nhau đi các nơi cố thổi sinh khí để vực đảng dậy nhưng không nổi. Kết quả là đảng viên lo thủ lợi riêng, du đảng rơi vào tình trạng lạm phát chức vụ (từ chức vụ mới ra tiền do tham nhũng) để mua lòng trung thành của đảng viên cao cấp. Trong nội bộ đảng kèn cựa quyền lợi giữa đảng viên có chức có quyền và các đảng viên khác không có phần bao nhiêu diễn ra công khai không khoan nhượng.
Sự giằng co không quyết giữa bảo thủ tiếc nuối cái cũ & cái mới chưa định hình đang diễn ra trên đầu dân tộc ta, mọi hậu quả dân phải hứng chịu. Mâu thuẫn hiện rất trầm trọng giữa quyền lợi quần chúng & quyền lợi bè phái. Quyền lợi riêng tư đang quyết định vận mạng chung của đất nước, làm uể oải chán nản mọi người, làm thui chột tuổi trẻ đầy sức sống và muốn cống hiến nhiều cho dân tộc.
Khắp nơi bất mãn ngày càng gia tăng mạnh : địa phương tìm cách né không thi hành lệnh trung ương, biểu tình nhiều nơi chống cán bộ đảng viên tham nhũng, chiếm đoạt đất đai trái phép, đòi tự do tôn giáo, và gần đây nhất các sắc dân thiểu số trên cao nguyên Trung phần nổi loạn đòi lại đất của tổ tiên họ bị nhà nước cướp cho di dân ngoài Bắc vô trồng cà phê ! Bạo lực là sở trường của CS, nhưng nếu đàn áp sẽ rối loạn vì đảng đã đẩy dân đến chỗ liều. Tình hình VN là thùng thuốc súng có thể nổ bất cứ lúc nào. Bộ Chính Trị đang ngồi tính mưu gian trên kho thuốc nổ đó.
oOo
Đây chính là lúc cần tác động mạnh, cần những tác động có tính quyết định.
Đánh đổ Bộ Chính Trị đảng CSVN do Phiêu-Khải-Lương cầm đầu và bất cứ tập đoàn nào kế tiếp, buộc chúng phải đi đến chỗ chấp nhận bầu cử công bằng tự do có giám sát quốc tế, để những người có khả năng ra lãnh đạo đổi mới đất nước với đường lối thực tiễn tiến bộ nhất.
1 - nhân dân ta đòi quốc hội VN phải thông qua ngay sau khi quốc hội Mỹ đã thông qua và nghiêm chỉnh thi hành thương ước Mỹ-Việt, để khai thông bế tắc về đầu tư và buôn bán, tạo nhiều công ăn việc làm giải quyết thất nghiệp và kiến tạo thế trong-ngoài để phát triển hữu hiệu VN đi dần vào hội nhập toàn cầu. Mở cửa giao thương sẽ làm hạ tầng cơ sở xã hội biến đổi hẳn theo kinh tế thị trường. Hạ tầng mới sẽ quyết định thượng tầng mới phù hợp.
2- vận động giới đầu tư ngoại quốc làm ăn ở VN tích cực tham gia như 1 thành phần năng động trong sinh hoạt hàng ngày của xã hội VN, hợp tác giữa chủ - thợ trên căn bản tôn trọng quyền công nhân, phải có công đoàn tư và tự do báo chí thì sản phẩm mới có chất lượng tốt để cạnh tranh & mới có thể chống lại nhũng lạm của giới cầm quyền áp dụng luật pháp tuỳ tiện.
3- mọi người, mọi giới lên tiếng đòi tư nhân hóa tất cả các xí nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, và khu vực tư nhân phải giữ vai trò chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân. Chính khu vực tư nhân phát triển sẽ thu nhập công nhân do quốc doanh đóng cửa. Nhân dân ta tẩy chay mọi chính sách duy trì quốc doanh, mấu chốt của bế tắc hiện nay. Trong nước đòi, đầu tư bên ngoài vào hết lòng ủng hộ, Bộ Chính Trị không có con đường nào, khả năng nào, phương cách nào là khuất phục đi theo xu thế kinh tế toàn cầu.
Ràng buộc chặt chẽ với thông thương kinh tế thương mại, chúng ta đòi Hà Nội phải tôn trọng Nhân Quyền & tiến đến tổ chức bầu cử Dân Chủ theo trình tự :
a/ dẹp bỏ sinh hoạt đảng trong giờ hành chánh, không được dùng tiền dân đóng thuế chi tiêu & trả lương cho cán bộ ủy các cấp chuyên trách tổ chức phát triển đảng. Vận động toàn dân ta nhất loạt đòi tách đảng ra khỏi chánh quyền, vì bộ máy hành chánh hoạt động do tiền của dân không thể là công cụ cho bất cứ đảng phái nào.
b/ để Quốc Hội hiện nay thảo luật bầu cử tự do, công bằng có giám sát quốc tế. Quốc Hội VN, cơ quan quyền lực cao nhất dù chỉ là hình thức, là đại diện cho toàn dân dù cũng chỉ là trên nguyên tắc, nên được giao phó nhiệm vụ soạn thảo này để tránh tranh cãi về tính hợp pháp cho giai đoạn chuyển tiếp.
c/ chính quyền, đã tách khỏi đảng, chiếu theo luật trên, tổ chức bầu Quốc Dân Đại Hội với nhiệm vụ thảo ra Hiến Pháp mới cho VN.
Mọi đổi thay không giải quyết dứt khoát những vấn đề căn bản trên chỉ là chiến thuật giai đoạn, hoặc nhượng bộ thứ yếu, hoặc trình diễn nhằm lừa bịp lôi kéo dư luận trong nước & quốc tế của Bộ Chính Trị đảng CSVN, mà đại hội IX lần này là 1 cố gắng leo dốc với hy vọng làm dịu bớt bất mãn quần chúng đang dâng cao.
Toàn dân muốn vứt bỏ của nợ lỗi thời cản bước tiến chung ngự trị đã quá lâu trên đất nước chúng ta. Trong nước, ngoài nước khắp nơi đang lên tiếng phủ nhận vai trò lãnh đạo của bọn cầm quyền và đòi Dân Chủ hóa. Tất cả đều đang tận dụng mọi phương cách mọi hình thức trong tầm tay nhằm nêu bật xu thế mới của thời đại là kinh tế tự do, dân chủ, tiến bộ xã hội mà không 1 nước nào, không 1 thế lực phản động nào đi ngược lại được. Mọi đóng góp đều đánh thẳng vô (và không vào đâu khác hết) khả năng tham mưu vốn đã rất yếu kém của bộ chính trị. Nội hàng triệu con mắt cùng nhìn xoáy vào 1 điểm đã là 1 sức mạnh làm kẻ gian phải chùn bước. Hàng triệu miệng la to tỏ ý chí sắt đá đủ làm chúng mất tinh thần. Hàng triệu nắm tay vung lên cho chúng thấy quyết tâm hành động. Chúng ta nên nhớ yếu điểm của CS hiện nay là không lôi kéo được đầu tư và không có hệ tư tưởng hấp dẫn tuổi trẻ. Trong khi đó, chìa khóa giải quyết 2 vấn đề này (tiền - kỹ thuật cho đầu tư và tinh thần Tự Do Dân Chủ cho khát vọng của tuổi trẻ) hiện nằm ngoài biên giới VN, trong tay lực lượng hơn 2 triệu người Việt định cư ở nước ngoài & các nhà tư bản ngoại quốc cũng đang muốn VN thay đổi qua kinh tế tự do để làm ăn dễ dàng. Vì thế ánh mắt, giọng nói, quả đấm vung lên có sức mạnh đánh bại bọn phản động bộ chính trị mà thế quần chúng nay mất & khả năng kinh bang tế thế không có. Không nhất thiết phải hợp thành 1 lực lượng chính trị mới tác động vào tình hình ; các nhóm, các hội đoàn... vẫn giữ nguyên sắc thái với phương cách riêng của mình. Đây chính là sự phong phú muôn màu muôn vẻ của cuộc đấu tranh chung, sức mạnh quần chúng không phải chỉ cộng lại mà còn được nhân thêm, gia tăng gấp bội. Và khi tình hình chín mùi, chỉ cần 1 quyết định sai lầm của Bộ Chính Trị, gây yếu tố khởi phát, là phong trào quần chúng sẽ ào ào nhào tới thanh toán bọn hải tặc trên con tầu VN đúng lúc biển quốc tế Tự Do Dân Chủ hoạt động mạnh nổi sóng, nhân dân ta sẽ nhanh trí nhanh tay giải quyết gọn bọn chính tặc mà thuyền không lật, lại còn nương sóng đưa VN lên ngay sau khi thoát nạn.
Liệu Bộ Chính Trị chống trả nổi quần chúng có sức mạnh kinh tế - văn hóa, trong ngoài phối hợp nhịp nhàng, hết người này đến người khác, hết hội đoàn này đến hội đoàn khác, liên hồi không ngừng nghỉ, giống như một bản hợp tấu dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Dân Chủ và giàn nhạc vô cùng đông đảo mà ai cũng dốc hết tâm trí & tài nghệ, một lòng vì Tổ Quốc.
Tập Hợp Vì Nền Dân Chủ không phải là tập hợp theo đầu óc đảng phái, hay quyền lợi riêng tư hay tham vọng cá nhân... Mà là : Tập hợp quần chúng nhân dân rộng khắp đòi lại quyền lợi cơ bản thiết thân mà họ đáng lẽ đã phải được hưởng, nhưng bị bọn Bộ Chính Trị đảng CS dùng công an trị & tuyên truyền lừa bịp cướp trắng. Đó là quyền được tham gia điều hành công việc của đất nước và quyết định tương lai của chính mình.
Toàn dân muốn thiết lập 1 cơ chế Dân Chủ luôn tạo cơ hội để thời nào cũng có những người tài đức ra giúp nước. Và chắc chắn chúng ta không muốn & không thể để số mạng dân tộc ta rơi vào tay bất cứ bọn lũng đoạn lãnh đạo cộng đồng nào khác nữa. Chính vì thế mà Tập Hợp Vì Nền Dân Chủ trong giai đoạn đánh đổ độc tài phải là tiền đề cho nền Dân Chủ vững mạnh của VN trong tương lai. Rối loạn hay đi ngay vào phát triển có mấu chốt từ tinh thần tập hợp ngày hôm nay.
Vì là cuộc chiến đấu toàn dân, toàn diện, cài răng lược, không có chiến tuyến và bất bạo động, nhân dân sẵn sàng chấp nhận tất cả để có tương lai tươi sáng hơn. Trong hoàn cảnh lòng dân như thế, bạo lực nào có thể đàn áp nổi ? Loài người văn minh có thể khoanh tay đứng nhìn mà không có thái độ ? Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các chính phủ dân chủ trên thế giới, các đại biểu dân cử, các tổ chức tranh đấu cho Nhân Quyền, công bằng xã hội đang bên cạnh nhân dân ta, theo dõi & hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh giành quyền được sống xứng đáng, bởi lẽ chính nghĩa của dân tộc ta là chính nghĩa của các dân tộc trên thế giới và tiến Bộ Chính Trị ở VN trong những ngày tới sẽ làm nức lòng người khắp nơi.
Bất cứ ai ở bất cứ đâu ủng hộ Dân Chủ Hóa VN cùng nhau tập hợp lại để :
- thứ nhất : Phối hợp hành động để tăng sức chiến đấu qua những phương tiện thông tin toàn cầu mới, mà nay không một chính quyền nào có thể kiểm soát nổi.
- thứ nhì : Ai sẵn sàng mang hết tâm trí, nghị lực & khả năng biến lý tưởng chung thành hiện thực có nhiệm vụ, có bổn phận hướng dẫn những anh chị em khác cùng hoạt động.
- thứ ba : Những cá nhân dũng cảm, hoạt động xuất sắc, có uy tín tất nhiên sẽ là những tấm gương sáng được cộng đồng yêu mến, tín nhiệm. Đây mới chính là những viên đá tảng cấu thành nền chính trị rộng lớn đánh đổ độc tài & xây dựng Dân Chủ bền chắc cho Việt Nam.
Thử thách lớn lao tới đây sẽ cho thấy : Bộ Chính Trị đảng CSVN không có con đường nào khác hơn là từ bỏ độc tài đảng trị, ngả theo quần chúng và xu thế thời đại, nghĩa là chấp nhận bầu cử công bằng tự do. Khi bước vào bầu cử, đường lối nào giải quyết hữu hiệu bài toán chậm tiến VN sẽ được ủng hộ rộng rãi & những ai hoạt động biến đường lối mới này thành hiện thực giỏi nhất qua quá trình đánh đổ độc tài & kiến tạo Dân Chủ sẽ được đa số cử tri bầu làm lãnh đạo của họ.
Còn nhiều khó khăn, nhưng dân tộc tái sinh. Vì vậy chông gai mấy chúng ta cũng cùng nhau ra sức gánh vác.
Nguyễn Đan Quế
Việt Nam và Con Đường Phục Hưng Đất Nước Nguyễn Vũ Bình |
Nguyễn Vũ Bình
Sau một thời gian tăng trưởng kinh tế ở mức cao (8-9%/năm), nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ suy giảm. Năm 1998 mức tăng trưởng đạt 5,8%, năm 1999 là 5%. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 1998 chỉ bằng 1/3 của năm 1997 và năm 1999 bằng 1/3 năm 1998. Vấn đề quan trọng là xu hướng giảm của tăng trưởng kinh tế và đầu tư nước ngoài ngày càng rõ nét. Tình trạng tham nhũng trở thành quốc nạn tham nhũng đã được Đảng, Quốc hội, Chính phủ và nhân dân thừa nhận. Tệ nạn xã hội - nỗi đau lớn nhất của dân tộc - đang phát triển không gì ngăn cản nổi. Gần đây, người ta khám phá ra vụ buôn bán, tiêu thụ ma túy lớn nhất từ trước tới nay, vụ án được xét xử ngày 13-6 tại Nam Định.
Trước tình hình thực tế của đất nước, có hai cách nhìn nhận, lý giải và đánh giá. Theo quan điểm chính thống của Đảng và nhà nước thì rõ ràng những thành tựu mà nước ta đạt được trong thập kỷ vừa qua là vô cùng ngoạn mục. Tuy nhiên, mấy năm cuối thập kỷ, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ châu Á, mức tăng trưởng của nền kinh tế có phần giảm sút song vẫn ở mức cao nhất khu vực và châu Á. Quốc nạn tham nhũng thì Đảng và Chính phủ, Quốc hội cũng không bao giờ quên. Bài diễn văn nào, cuộc họp nào cũng nhắc tới, thậm chí những cuộc tiếp xúc ngắn ngủi giữa lãnh đạo Đảng với dân, tham nhũng cũng bị đưa ra bàn bạc, mổ xẻ. Tệ nạn xã hội đích thị là do kinh tế thị trường (mặt trái của kinh tế thị trường). Không còn phải nghi ngờ gì nữa, chúng ta chấp nhận kinh tế thị trường cũng phải chấp nhận mặt trái của nó và tệ nạn xã hội là đương nhiên. Vấn đề là giáo dục đạo đức và khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường.
Một cách nhìn nhận khác, trái hẳn với cách nhìn nhận thông thường, chính thống. Cách nhìn nhận này thực ra đã được các nhà cách mạng lão thành, những trí thức tâm huyết với đất nước ở trong và ngoài nước bằng nhiều hình thức góp ý với Đảng và Nhà nước. Cũng là điều bình thường khi người đi sau tổng hợp và phát triển với một ý chí và quyết tâm cao trên cơ sở nhận thức của bản thân.
Đến thời điểm này, tôi cho rằng Việt Nam đang đứng trước một cuộc tổng khủng hoảng lớn nhất của chế độ hiện hành. Có thể khái quát trạng thái hiện nay của tình hình đất nước là : Bế tắc về đường lối, đình trệ về kinh tế và dồn nén về xã hội. Sau đây sẽ phân tích từng vấn đề.
Vấn đề lớn đầu tiên là đường lối về chính trị. Với ý thức hệ Mác- Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đưa đất nước vào ngõ cụt bởi những lý do :
Thứ nhất, hệ tư tưởng Mác- Lênin khái quát thực tế lịch sử từ trước cho đến thế kỷ XIX, hiện nay chúng ta đang sống ở thế kỷ XXI, không thể lấy những kết luận của thế kỷ XIX làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động ở thế kỷ XXI được.
Thứ hai, dù nói cách nào thì sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Ấu đã chứng minh ý thức hệ tư tưởng Mác- Lênin không phù hợp với lịch sử và đã bị đào thải.
Thứ ba, theo nhà toán học Phan Đình Diệu, khái niệm "Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN" là một khái niệm mâu thuẫn. Chủ nghĩa xã hội, với tư cách là một thể chế xã hội (theo định nghĩa kinh điển), là một chế độ mà về mặt kinh tế phải xây dựng trên cơ sở công hữu hóa về tư liệu sản xuất, quản lý tập trung và kế hoạch hóa vv... rõ ràng mâu thuẫn với kinh tế thị trường. Mâu thuẫn trong cơ sở lý luận sẽ dẫn tới những biện pháp nửa vời trong thực tiễn hành động. Đây là lý do quan trọng nhất dẫn tới bế tắc về đường lối phát triển kinh tế hiện nay. Với quan điểm kinh tế Nhà nước (nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước) giữ vai trò chủ đạo, nền kinh tế Việt Nam không thể phát triển được. Trên thế giới chưa có một nước nào mà doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và thực tế đau đớn của Liên Xô và các nước Đông Ấu cũng như những nước gọi là CNXH, trong đó có Việt Nam còn tồn tại chẳng phải đã là những minh chứng rõ như ban ngày hay sao ? Một vấn đề rất quan trọng nữa về đường lối, đó là đường lối hội nhập. Chúng ta đều biết rằng, sự phát triển của một nền kinh tế ngày nay không thể tách rời khỏi sự phát triển của nền kinh tế khu vực và thế giới. Để thu hút vốn, kỹ thuật và trình độ quản lý cho phát triển kinh tế thì hội nhập là yêu cầu tuyệt đối đối với bất cứ nền kinh tế nào. Song hội nhập lại đòi hỏi các nền kinh tế phải đáp ứng đầy đủ những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường. Và bất kỳ nền kinh tế nào đi ngược lại hoặc chưa bảo đảm về cơ bản các nguyên tắc thị trường đều bị tổn thương trong quá trình hội nhập. Cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ châu Á vừa qua đã chứng minh rất rõ luận điểm này. Theo tôi, các nước vừa qua bị khủng hoảng do đã vi phạm hai nguyên tắc rất quan trọng của nền kinh tế thị trường, đó là : Thị trường phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế và tính minh bạch và trung thực của thông tin trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, với nền kinh tế nước ta hiện nay, các nhà lãnh đạo đều cảm nhận được sự nguy hiểm của hội nhập và chính vì vậy đã dẫn tới sự nửa vời, bị động và bế tắc trong đường lối hội nhập.
Báo cáo kinh tế của Viện Kinh tế học cuối năm 1999 đã đưa nhiều số liệu về việc tồn đọng một số sản phẩm cơ bản của nền kinh tế như : xi măng, sắt, thép, phân bón, đường,vv... cũng như tình hình thất nghiệp rất lớn trong các doanh nghiệp hiện nay. Đó là một trong những biểu hiện đình trệ của nền kinh tế. Nhưng quan trọng hơn là đi vào tìm hiểu bản chất của nền kinh tế nước ta hiện nay. Thú thực, là một người Việt Nam nhưng tôi không thể vui mừng được trước những cái gọi là thành tựu của công cuộc đổi mới như tăng trưởng kinh tế 8-9%, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 33% xuống còn 17% theo số liệu chính thức. Ở đây chưa bàn đến phương pháp thống kê (tính GDP) cũng như định nghĩa về hộ đói nghèo mà vấn đề là những gì đang diễn ra đằng sau những con số đó. Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế có một khuyết điểm rất lớn là nó không chỉ cho người ta biết được khả năng thanh toán hay khả năng trả nợ của một nền kinh tế - và đây là điểm quan trọng nhất. Tôi hình dung nền kinh tế Việt Nam như một quỹ tín dụng nhân dân khổng lồ (dân gian gọi là chủ hụi) chưa bị vỡ nợ. Đặc điểm của những quỹ tín dụng này là khả năng che đậy thực lực tài chính bằng phương pháp vay của người sau trả cho người trước và nó chỉ bị vỡ tung khi bị phát hiện hoặc không vay được nữa.
Theo số liệu công bố chính thức, tổng số nợ của nước ta là 11 tỉ USD, nhưng số nợ thực có thể là gấp rưỡi hoặc gấp đôi (xấp xỉ 20 tỉ USD), tức là số nợ gần tương đương hoặc bằng 2/3 tổng sản phẩm quốc nội của nước ta. (GDP của Việt Nam khoảng 30 tỉ USD nhưng có người nhận định chỉ vào khoảng 20 tỉ USD). Nhưng vấn đề quan trọng là một nền kinh tế không có hiệu quả (sẽ phân tích), với đường lối và phương thức phát triển như hiện nay thì khả năng trả nợ sẽ là con số không ! Điều này lý giải tại sao tất cả những số liệu, thông tin về vấn đề này đều thuộc bí mật quốc gia. Xin lấy một ví dụ cụ thể về hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Theo số liệu của Báo cáo kinh tế của Viện Kinh tế học thì số nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta là 7% trên tổng dư nợ, cộng với 7% khoanh nợ cho các doanh nghiệp nhà nước là 14% (theo các chuyên gia nước ngoài là 23-25%). Trong khi đó, bất kể ngân hàng nào trên thế giới, số nợ quá hạn trên tổng dư nợ là 5% thì ngân hàng đó đã phải phá sản ! Như vậy hệ thống ngân hàng của nước ta có số nợ quá hạn cao gấp 3 đến 5 lần giới hạn cho phép mà vẫn tồn tại ung dung, vui vẻ. Điều mấu chốt là những thông tin này phải được giữ bí mật, nhất là đối với những người gửi tiền vào ngân hàng. Vấn đề đói nghèo cũng có kịch bản tương tự. Đằng sau những con số mỹ miều về thành tích xóa đói giảm nghèo là cuộc sống cùng cực của những người công nhân, nông dân, những người lao động. Bởi vì những con số chỉ phản ánh được mức tăng đơn thuần về lượng của thu nhập mà không biết tới một chu kỳ "tiêu dùng mới" của toàn xã hội trong những năm qua. Trong 10 năm (1990-1999) qua, chúng ta đã bước sang một chu kỳ tiêu dùng mới với những chi tiêu cho giáo dục, y tế, những khoản đóng góp mới, với chi tiêu cho những hủ tục ở nông thôn mới trỗi dậy và những khoản tiêu cực phí cho bất kỳ công việc nào,vv... Những con số tăng lên nhỏ nhoi về thu nhập liệu có lấp đầy những chi phí phát sinh trong chu kỳ tiêu dùng mới của nhưng hộ đói nghèo ? Có nên tự hào về những con số đó không khi mà những gia đình này phải có những khoản tiền khổng lồ đối với họ thì con họ mới học lên được trung học và đại học.
Tình trạng đình trệ về kinh tế được phân tích rất rõ trong Báo cáo kinh tế của Viện Kinh tế học. Nguyên nhân trực tiếp của việc tồn đọng những sản phẩm cơ bản là do chi phí sản xuất quá cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nguyên nhân về cơ cấu - mục tiêu là do : thứ nhất, phần lớn lượng vốn xã hội đầu tư vào khu vực doanh nghiệp nhà nước không có hiệu quả "Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sử dụng hơn 80% lượng vốn xã hội, giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và đóng góp vào ngân sách nhà nước nhưng khả năng tích luỹ còn rất hạn chế. Trên thực tế, tổng số nợ của DNNN năm 1999 đã lên tới khoảng 200.000 tỉ đồng. Nếu tính đầy đủ những khoản như xóa nợ, khoanh nợ không phải thanh toán, bao cấp lãi suất, vv... thì các DNNN này chẳng những không tạo ra được tích lũy mà còn khó tái tạo được nguồn vốn ban đầu . Dù muốn lập luận như thế nào chăng nữa hơn 80% lượng vốn xã hội sử dụng theo phương cách trên vẫn là nguyên nhân của tình trạng giảm sút tăng trưởng và kìm hãm cầu" -- (Tạp chí Cộng sản, số 2, tháng 1-2000, trang 32) ; Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân không phát triển được. Chúng ta đều biết, kinh tế tư nhân là động lực phát triển của tất cả các nền kinh tế thị trường phát triển trên thế giới. Khu vực kinh tế này không phát triển được thì nền kinh tế cũng không thể phát triển.
Có ba nguyên nhân quan trọng làm cho khu vực kinh tế tư nhân không phát triển. Một là, không thừa nhận sở hữu tư nhân dẫn tới việc tư nhân kinh doanh không được bảo đảm và bảo vệ bằng pháp luật. Hai là, kinh tế thị trường chưa chín muồi (chưa tạo lập đầy đủ và đồng bộ các thị trường), chưa có hệ thống pháp luật cho kinh tế thị trường phát triển, dư luận xã hội đối với kinh tế tư nhân còn nhiều nặng nề, định kiến. Ba là, sự méo mó của hoạt động sản xuất kinh doanh do việc ưu tiên quá mức cho các DNNN.
Với hai nguyên nhân cơ cấu-mục tiêu nêu trên, nền kinh tế nói chung không có hiệu quả. Kết hợp với việc sụt giảm đầu tư nước ngoài và đường lối hội nhập bế tắc, sự đình trệ của nền kinh tế là một tất yếu.
Đối với mỗi một nhà phân tích có lương tâm, vấn đề xã hội của đất nước hiện nay là nỗi đau lớn nhất bởi tính chất nghiêm trọng và khả năng khôi phục cực kỳ khó khăn, lâu dài của nó. Có thể nói, những nền tảng cơ bản của xã hội Việt Nam đã bị phá hủy hoàn toàn. Điều này thể hiện trên những phương diện sau :
- Tính trung thực xã hội đã bị phá hủy hoàn toàn. Tính trung thực xã hội là nền tảng quan trọng nhất để một xã hội phát triển lành mạnh. Song, chúng ta đều biết rằng, qua thời gian tính trung thực xã hội đã biến mất. Trước hết, sự không trung thực bắt nguồn từ hệ thống chính trị, thẩm thấu vào hệ thống quản lý và lan tỏa ra toàn xã hội. Một đặc trưng của xã hội hiện nay là không một ai nói thật và rất sợ sự thật. Không phải ngẫu nhiên mà phương châm hành động của Đại hội VI là nói đúng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật và đánh giá đúng sự thật.
- Đạo đức xã hội đã bị phá hủy nghiêm trọng. Những quan hệ xã hội, trong đó quan hệ con người với con người là cơ bản, và quan hệ tình cảm hợp thành nền tảng đạo đức xã hội đều bị phá hủy nghiêm trọng bởi sự ra đời và lên ngôi của một thứ quan hệ "đồng chí". Thực ra quan hệ "đồng chí" không có nội dung xã hội và không thể tồn tại, song chính vì vậy mà nó đã tồn tại bằng một sự lên gân và tiêu diệt các mối quan hệ khác. Không có gì ngạc nhiên khi ngày nay người ta thường gọi những người mà mình ghét và khó chịu là "đồng chí". Trải qua một thời gian dài, khi mà quan hệ đồng chí không còn nữa thì cũng là lúc mà những quan hệ khác đã bị phá hủy hoàn toàn.
- Những giá trị xã hội và thước đo giá trị xã hội đã bị đảo lộn. Bằng sự can thiệp sâu rộng của chính trị vào tất cả các lĩnh vực và trên mọi phương diện, đến nay những giá trị xã hội và thước đo giá trị xã hội đã bị đảo lộn hoàn toàn. Những gì là đúng, là sai, là hay, là dở không thể nào thống nhất và phân biệt được. Con người nào là tài, là giỏi, là dốt, là cơ hội,vv... không có thước đo xã hội làm chuẩn mục đánh giá. Đây đúng là bi kịch của xã hội Việt Nam bởi vì chúng ta không thể nào huy động và sử dụng được những con người tài giỏi, trí tuệ nhất của đất nước để thoát ra khỏi tình trạng hiện nay .
- Con người bị tha hóa. Biểu hiện cuối cùng và cao nhất về sự xuống cấp xã hội là sự tha hóa của con người. Người ta không được phép nói ra những điều mình suy nghĩ, hành động theo những gì người ta cho là đúng, tức là mình không phải là mình. Có người nói rằng, con người ngày nay là con người nhị nhân cách, song theo tôi thì những người nhị nhân cách đó là những người không có nhân cách. Làm sao mà có nhân cách được trong khi tất cả các phát biểu chính thức, những cuộc họp, hội thảo anh nghĩ một đằng lại nói một nẻo.
Lý giải nguyên nhân của tất cả những vấn đề xã hội nêu trên là một điều hết sức khó khăn. Song cũng có một vài điều để chúng ta suy nghĩ về nguyên nhân. Tuyệt đối hóa mục đích trong các hoạt động thực tiễn, tức là phải đạt được mục đích bằng mọi biện pháp, mọi giá, không cần xem xét tới hậu quả - có thể là nguyên nhân khởi nguồn, đầu tiên. Tuyệt đối hóa quyết định cấp trên - mệnh lệnh, một nguyên tắc của chiến tranh được đưa vào quản lý xã hội. Và cuối cùng, kết hợp với ảo tưởng về một xã hội dựa trên nền tảng công hữu về tư liệu sản xuất.
Trên nền của một xã hội như vậy, số lượng ngày càng tăng của tội phạm và tính chất man rợ và nghiêm trọng của tội ác không phải là điều gây quá nhiều ngạc nhiên. Vấn đề là hiện nay đang có sự dồn nén đặc biệt về xã hội được tạo ra bởi những khó khăn của nông dân, công nhân, những ức chế của giới trí thức, những hoài nghi và lo lắng của cán bộ lão thành, cán bộ hưu trí. Có ba nguyên nhân dẫn tới những dồn nén xã hội.
* Một là, Điều kiện sống, sinh hoạt khổ cực của nông dân và công nhân. Điều này không cần dẫn chứng và phân tích nhiều bởi vì đối với công nhân, tình trạng không có việc làm và thu nhập thấp là phổ biến và rõ như ban ngày. Đối với nông dân, sự cùng cực và dồn nén đã bùng nổ ở Thái Bình mà nguyên nhân cơ bản của nó đã được phân tích hoàn hảo trong bài "Từ thực tế một xã, suy ngẫm về sự đóng góp của nông dân" của Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Trọng đăng trên Tạp chí cộng sản số 16, tháng 8-1997. Trong bài báo có hai điều cần lưu ý, đó là sự dư thừa của lực lượng lao động từ 50-60% ở vùng đồng bằng sông Hồng. Điều này phản ánh sự bế tắc trong việc tạo lập môi trường làm ăn thuận lợi cho nông dân. Thứ hai là mức đóng góp rất lớn của nông dân từ 13-21 khoản chiếm tới trên 70% thu nhập, dẫn tới thu nhập thực tế của nông dân ở mức cực kỳ khốn khổ: 28.400 đồng/người/tháng của lao động thuần nông và 40.000 đồng/người/tháng cho người có thêm thu nhập phụ (điều này phản ánh chính sách hà khắc đối với nông dân). Với mức thu nhập thấp, cộng với những tiêu cực phát sinh ở địa phương (cán bộ tham ô, tham nhũng, hách dịch...) những người nông dân Thái Bình nổi dậy đã thực sự cảnh báo nguy cơ tổng khủng hoảng của toàn xã hội.
* Hai là, Bất công xã hội do sự phân hóa giàu - nghèo, giữa nông thôn và thành thị đang diễn ra ngày càng sâu sắc. Trong khi những người nông dân ở nông thôn, những người công nhân đang vật lộn với cuộc sống khổ cực thì lại có một tầng lớp mới (tuyệt đại bộ phận là những kẻ có chức, có quyền nằm trong bộ máy Nhà nước, Đảng) giàu nứt đố đổ vách, ăn tiêu xa xỉ cả đời không hết của. Trong khi hàng tiêu dùng bão hòa ở thành thị thì người nông dân ở nông thôn vẫn rách rưới, thiếu thốn và không thể nào mua nổi. Pháp luật chỉ nghiêm minh đối với những người thấp cổ bé họng và nghèo khổ nhưng lại né tránh những kẻ có quyền và có tiền.
* Ba là, Cảm nhận về sự bế tắc của tương lai. Đối với người nông dân và công nhân, người ta không nhìn thấy một tương lai khả quan nào về việc làm cũng như cải thiện thu nhập của họ. Giới trí thức và những người có tâm huyết với đất nước cũng không nhìn thấy một tia sáng nào dưới đường hầm tăm tối của đường lối phát triển đất nước hiện nay. Việc không nhìn thấy lối thoát đã góp phần tạo ra sự thụ động xã hội và cuối cùng là sự dồn nén xã hội.
Trên đây là những khái quát và phân tích về tình hình đất nước. Song tất cả thực trạng này mới chỉ là tiền đề cho sự thay đổi có tính chất cách mạng của xã hội Việt Nam. Nếu dựa vào kinh nghiệm rút ra từ những nước thay đổi chế độ trong vòng 15 năm trở lại đây, chúng ta không nhìn thấy tương lai của sự thay đổi. Ở Việt Nam, sự thay đổi chế độ bắt nguồn từ sự thay đổi đường lối chính trị do những người lãnh đạo cao nhất khởi xướng bị loại trừ hoàn toàn. Mặt khác, sự sụp đổ về kinh tế dẫn tới động loạn xã hội và thay đổi về chính trị (như Anbani và Indonexia) rất khó xảy ra bởi khả năng can thiệp và tinh thần cảnh giác cao của Nhà nước trước những biến động kinh tế. Vậy thì phải chăng là sự gia tăng của ba yếu tố khó khăn kinh tế, dồn nén xã hội, sự phân hóa của tầng lớp lãnh đạo cùng với sự xuất hiện của lực lượng đối lập sẽ là câu trả lời về sự thay đổi của đất nước.
Đứng trước tình hình hiện nay, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là gì ? Liệu Đảng Cộng sản có khả năng tự thay đổi mình và xoay chuyển được tình thế để vẫn giữ được vị trí lãnh đạo đất nước trong tương lai không ? Câu trả lời là không và có.
- Không : Tất cả sự lựa chọn và thay đổi khó khăn nhất của Đảng CS tập trung vào hai điểm mấu chốt là Doanh nghiệp Nhà nước và chống tham nhũng. Nếu từ bỏ được quan điểm DNNN giữ vai trò chủ đạo, đồng nghĩa với việc phát triển kinh tế tư nhân, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế của đất nước và chống được tham nhũng, đồng nghĩa với việc làm trong sạch Đảng và lấy lại được uy tín trước nhân dân thì Đảng CS vẫn ung dung một mình lãnh đạo đất nước tiến vào thế kỷ XXI . Nhưng than ôi ! điều đó nằm ngoài khả năng hiện thực. Bởi vì loại bỏ DNNN cũng chính là từ bỏ lợi ích sống còn của tầng lớp lãnh đạo, lợi ích được bao phủ bởi vẻ đẹp huyền ảo (không ai hiểu được) của định hướng XHCN, của con đường đi lên CNXH hiện nay. Còn chống tham nhũng ư ? tham nhũng ở Việt Nam là phương thức tự tồn tại của tất cả những người có điều kiện tham nhũng do mức lương khốn khổ cộng với tình trạng mua quan, bán tước nở rộ hiện nay. Liệu ĐCS có thể chống được tham nhũng không ?!?
- Có : Trước khi trả lời câu hỏi, cần phải có sự thống nhất về nhận thức. Nếu cho rằng tình hình đất nước hiện nay chỉ là những khó khăn tạm thời, không liên quan gì tới bản chất chế độ, thì không có gì phải bàn ở đây. Song nếu Đảng CS nhận thức được nguy cơ thực sự của tình hình đất nước, khả năng thay đổi chế độ xã hội trong tương lai gần là có thực và không tránh được, thì vấn đề là Đảng phải làm gì để tự thay đổi và giữ được khả năng lãnh đạo (tất nhiên là không phải độc quyền lãnh đạo nữa) trong điều kiện ổn định của xã hội. Trong tình hình như vậy, Đảng CS phải có một quyết tâm và một sự hy sinh cực kỳ to lớn nhưng cần thiết. Đó là Đảng CS cần tự đặt mình vào thử thách sống còn trước khi bị xã hội làm điều đó. Và tôi tin rằng nếu Đảng CS thực sự vì dân, vì nước, thực sự muốn lấy lại lòng tin của nhân dân để tiếp tục lãnh đạo đất nước thì quyết định duy nhất đúng hiện nay là từ bỏ độc quyền lãnh đạo, đồng ý thực hiện đa nguyên tư tưởng, đa đảng đối lập. Tôi xin phân tích thêm ý nghĩa của quyết định này .
Nếu quyết định này (đồng ý thực hiện đa nguyên, đa đảng) chỉ là giải pháp để giữ vị trí lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam trong giai đoạn nhất định, thì đối với lịch sử của đất nước, nó lại là một quyết định, một chiến công vĩ đại nhất từ trước tới nay. Nhìn lại toàn bộ lịch sử nước ta, truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc, truyền thống chống ngoại xâm vô cùng oanh liệt nhưng nhân dân chưa bao giờ được tự do, đất nước chưa một ngày có dân chủ. Hiện nay đất nước đang ở thời điểm quyết định cho bước chuyển biến lớn nhất của lịch sử, và lịch sử đang trao trọng trách cho tất cả chúng ta. Chúng ta, trước hết là ĐCS, cần phải nắm bắt và khai thác được thời cơ có một không hai này để mở ra cho toàn xã hội một chân trời mới của sự phát triển. Tôi tin tưởng tuyệt đối và mãnh liệt rằng, dù có bất kỳ trở ngại nào, dù ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân nào, lực lượng nào cản trở, dân tộc Việt Nam vẫn đi tới đích của lịch sử : Tự do của cá nhân và Dân chủ cho toàn xã hội.
Là một người dân Việt, với nhận thức về tình hình đất nước và xu thế không thể đảo ngược, tôi chỉ có một mong muốn duy nhất là làm sao góp phần giảm thiểu tối đa những tổn thất mà nhân dân phải gánh chịu, nảy sinh từ bước chuyển biến đau đớn nhưng đầy vinh quang sắp tới. Lý do cũng rất đơn giản, một thay đổi lớn của lịch sử nếu không có sự chuẩn bị về tinh thần của nhân dân sẽ rơi vào hỗn loạn, dẫn tới hậu quả khôn lường cho xã hội. Chính vì vậy, cần có một lực lượng đối lập ngay trong lòng xã hội hiện nay để một mặt, thúc đẩy tất cả các yếu tố sẵn có đi tới chín muồi và mặt khác, cùng với thời gian và sự thay đổi, tạo ra nền tảng vững chắc cho một cơ cấu dân chủ trong tương lai (tránh tình trạng như nước Nga, khi thay đổi chế độ không có một chính đảng thực sự thay thế dẫn tới việc kéo dài thời gian xây dựng thiết chế dân chủ).
Trên tinh thần đó, Tôi đã làm đơn (có gửi kèm) xin thành lập đảng Tự do - Dân chủ. Xin trình bày một số nét sơ lược về đảng Tự do - Dân chủ cũng như suy nghĩ của bản thân về con đường phát triển đất nước.
Đảng Tự do - Dân chủ có mục đích tự thân là đấu tranh cho Tự do cá nhân và Dân chủ xã hội. Trong bất kỳ thời điểm nào, hoàn cảnh nào, nếu Đảng không còn đấu tranh cho Tự do và Dân chủ, thì Đảng sẽ không còn là đảng Tự do - Dân chủ. Mục tiêu cơ bản và lâu dài của đảng Tự do - Dân chủ là xây dựng một xã hội : Nhân dân tự do - giàu có, Quốc gia hùng mạnh, Xã hội dân chủ - công bằng - văn minh.
Để thực hiện được mục tiêu cao đẹp trên, cần xây dựng được tiền đề, nội dung và điều kiện cho sự phát triển đất nước. Đó là : Dân chủ hóa xã hội, Xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và phát triển, Quốc tế hóa mọi hoạt động, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội .
a/ Dân chủ hóa xã hội. Nói tới dân chủ hóa xã hội là phải tôn trọng những nguyên tắc chung của dân chủ, tức là phải thừa nhận những quyền cơ bản của con người, quyền công dân mà bất kỳ chế độ dân chủ nào cũng phải thừa nhận. Đó là quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc, quyền được tự do ứng cử và bầu cử. Mặt khác, cần xây dựng hệ thống luật pháp làm nền tảng cơ bản cho chế độ chính trị dân chủ. Một luật pháp cần bảo đảm được những quyền con người và quyền công dân cơ bản, bảo đảm được sự phát triển và thay đổi bằng tiến hóa trong ổn định và quan trọng nhất là tạo ra khả năng lựa chọn cái tốt nhất cho đất nước. Điều cần lưu ý là xây dựng chế độ dân chủ phải là một quá trình liên tục, tự điều chỉnh, tự bổ sung và hoàn thiện. Cần huy động được sự cống hiến của mọi người, không loại trừ người nào trong quá trình thực hiện dân chủ.
b/ Xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại và phát triển. Trong nền kinh tế thị trường thì quyền tư hữu tài sản là nền tảng phát triển, quyền sở hữu trí tuệ là động lực phát triển. Cần phải tuyệt đối bảo đảm và bảo vệ hai quyền này bằng luật pháp. Đồng thời tuân thủ nguyên tắc số một của kinh tế thị trường là : thị trường phân bổ có hiệu quả các nguồn lực. Nền kinh tế hiện đại gắn liền với xã hội thông tin, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. Với tiềm năng trí tuệ và khả năng sáng tạo của con người Việt Nam, chúng ta hy vọng một sự bùng nổ khi mỗi một cá nhân được tự do phát triển.
c/ Quốc tế hóa các hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới . Xét trên góc độ hội nhập, đó là việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm phát huy văn hóa dân tộc lên tầm cao mới. Xét trên giác độ toàn cầu hóa, đó là thực hiện sự luân chuyển tự do của các yếu tố : nhân lực, thông tin, vốn, kỹ thuật. Trong điều kiện hiện nay, đẩy mạnh quốc tế hoá các hoạt động trên mọi lĩnh vực chính là điều kiện để thực hiện dân chủ hoá xã hội và xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại .
***
Bài viết này tập hợp tất cả trí tuệ và tâm huyết của bản thân tôi. Với tâm niệm rằng, cần phải có một đảng chân chính và trung thực ngay từ buổi đầu thành lập, bằng phương thức đấu tranh công khai và hoà bình cho Tự do và Dân chủ ở Việt Nam. Tôi biết rằng, có thể tôi sẽ phải hy sinh nhưng vẫn tin tưởng tuyệt đối là : Lịch sử sẽ sang trang, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ được hưởng Tự do và Dân chủ trong một tương lai không xa nữa. Và trên nền của Tự do và Dân chủ, nhân dân Việt Nam sẽ làm cho cả thế giới phải kinh ngạc về dân tộc mình, đất nước mình không kém những gì họ đã làm trong lịch sử.
*****
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc
Kính gửi : Ông Trần Đức Lương
Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đồng kính gửi : Ông Nông Đức Mạnh
Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tên tôi là : Nguyễn Vũ Bình, phóng viên Tạp chí Cộng sản, thường trú tại số nhà 26, tổ 67b, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình đất nước, tôi có nhận thức rằng Việt Nam hiện nay đang đứng trước một cuộc tổng khủng hoảng toàn diện về kinh tế, chính trị và xã hội. Theo nhận định của tôi, trong tương lai không xa nữa, sẽ có một sự thay đổi lớn của lịch sử đất nước và đó chính là sự thay đổi về chế độ xã hội. Việc có một lực lượng đối lập, mà đại diện là một chính đảng trong lòng xã hội hiện nay là yêu cầu bức thiết và tất yếu để giảm thiểu những tổn thất mà nhân dân phải gánh chịu trong quá trình thay đổi. Trên cơ sở nhận thức như vậy, tôi mạnh dạn làm đơn này, đề nghị và kính mong các Ông, vì tương lai đất nước, vì lợi ích của dân tộc, cho phép tôi thành lập đảng Tự Do - Dân Chủ.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội ngày 2
tháng 9 năm 2000
Người làm đơn
Nguyễn Vũ Bình
Thư Kiến Nghị Thích Thái Hòa |
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc
-------- * -------
Kính gởi:
- Ông Lê Khả Phiêu-Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam.
- Ông Trần Đức Lương-Chủ Tịch Nước CHXHCNVN.
- Ông Nông Đức Mạnh-Chủ Tịch Quốc Hội Nước CHXHCNVN.
- Ông Phan Văn Khải-Thủ Tướng Chính Phủ Nước CHXHCNVN.
- Ông Nguyễn Dy Niên-Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Nước CHXHCNVN.
- Ông Lê Minh Hương-Bộ Trưởng Bộ Công An Nước CHXHCNVN.
- Ông Phạm Thế Duyệt-Chủ Tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.
- Ông Hà Mạnh Trí-Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Tối Cao Nước CHXHCNVN.
- Ông Lê Quang Vịnh - Trưởng Ban Tôn Giáo Chính Phủ Nước CHXHCNVN.
Thưa quý Ngài,
Tôi là Bhikkhu Thích Thái Hòa, một Tăng sĩ Phật giáo Việt Nam gởi thư này đến quý Ngài, với tư cách là một công dân Nước Việt Nam đang có Dân Quyền và đang được luật pháp Nhà Nước bảo hộ ; với tư cách của một người đang có Nhân Quyền, đang được Công Pháp Quốc Tế bảo hộ, với tư cách một đại biểu chính thức của Hội Nghị Thượng Đỉnh Hòa Bình Thế Giới Thiên Niên Kỷ tại Liên Hiệp Quốc, và đang được Liên Hiệp Quốc bảo hộ ; cùng với tư cách của một Tăng sĩ Phật giáo đang có Tăng Quyền và đang được cộng đồng Tăng Đoàn trên Thế giới bảo hộ, xin gởi thư này đến quý Ngài để trình bày một số vấn đề như sau :
1. Tôi đã nhận được một bưu phẩm do bưu điện Huế chuyển đến, dấu bưu điện tại New York đóng ngày 18 tháng 07 năm 2000, dấu bưu điện Huế đóng ngày 14 tháng 08 năm 2000 và bưu phẩm đã đến tay tôi nhận ngày 16 tháng 08 năm 2000.
Như vậy, một bưu phẩm tại New York từ khi gởi, đến khi nhận phải trải qua 28 ngày đường và bưu phẩm đã bị mất dấu dán nguyên thủy.
Trong bưu phẩm này có hai văn thư.
Một văn thư mời đích danh tôi là Thượng Tọa Thích Thái Hòa đến dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Hòa Bình Thế Giới Thiên Niên Kỷ. Thư mời đứng tên vị Tổng Thư Ký Hội Nghị Thượng Đỉnh là Ngài Bawa Jain đề ngày 19 tháng 07 năm 2000.
Văn thư thứ hai có kèm theo các tài liệu hướng dẫn làm thủ tục đăng ký dự Hội Nghị và phát biểu ý kiến. Văn thư hướng dẫn này đứng tên vị phụ trách chương trình và đăng ký là Ngài Joy Mayo, cùng đề ngày 19 tháng 07 năm 2000.
Nhận được thư mời do bưu điện chuyển đến quá trễ, tôi đã phải đến cơ quan công chứng để nhờ chuyển dịch bản thư mời từ Anh ngữ sang Việt ngữ và đã được công chứng ngày 18 tháng 08 năm 2000. Ngày 19 và ngày 20 tháng 08 nhằm ngày thứ bảy và chủ nhật, các Cơ Quan Nhà Nước nghỉ làm việc, nên tôi phải đợi đến 8 giờ ngày thứ hai, tức là ngày 21 tháng 08 năm 2000 mới đến văn phòng Ban Tôn Giáo Chính Quyền Thừa Thiên-Huế, nạp thủ tục để xin đi tham dự Hội Nghị.
Khi xem xong hồ sơ, Ông Trưởng Ban Tôn giáo chính quyền Thừa Thiên-Huế báo cho tôi biết rằng:
"Hồ sơ của Thầy còn thiếu giấy giới thiệu của Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam."
Tôi đã trả lời : "Tôi không phải là thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), nên Giáo Hội ấy không thể giới thiệu cho tôi đi tham dự Hội Nghị. Lại nữa, Liên Hiệp Quốc mời tôi tham dự Hội Nghị chứ đâu có phải mời Giáo Hội mà Giáo Hội giới thiệu. Và nếu Liên Hiệp Quốc có mời Giáo Hội tham dự Hội Nghị thì Giáo Hội cũng không thể giới thiệu tôi."
Lại nữa, trong Hiến Chương của GHPGVN có ghi rằng : "Thành viên của GHPGVN là những người tự nguyện theo GHPGVN.", như vậy tôi đâu có tự nguyện theo GHPGVN ; nên tôi không phải là thành viên của Giáo Hội ấy mà buộc tôi phải có giấy giới thiệu của Giáo Hội này thì Nhà Nước mới cho phép xuất cảnh là mâu thuẫn với Hiến Chương của Giáo Hội và chệch hướng Hiến Pháp của Nhà Nước Việt Nam.
Trong Hiến Pháp Nhà Nước Việt Nam quy định : "Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước Pháp Luật. Mọi người dân đều có quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng, mọi người dân có quyền theo hoặc không theo một Tôn giáo nào và có quyền thay đổi Tôn giáo." Và Luật Pháp còn nghiêm cấm phân biệt đối xử nữa.
Vậy, vì lý do nào mà Ông yêu cầu tôi phải có giấy giới thiệu của Trung Ương GHPGVN, một Giáo Hội mà tôi không có Tín ngưỡng !
Lại nữa, theo tôi nghĩ, GHPGVN theo quy chế của Nhà Nước là chỉ ngang hàng của một Hiệp Hội như Hội Phụ Nữ... ; có nhiều phụ nữ Việt Nam đâu có vào Hội Phụ Nữ và họ đi ra nước ngoài đâu cần giấy giới thiệu của Hội ?
Ông Trưởng Ban Tôn giáo nói : "Vì Thầy là chức sắc Tôn giáo"
Tôi trả lời : "Tôi đến tham dự Hội Nghị, tôi không đại diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và cũng không đại diện GHPGVN mà chỉ tham dự với tư cách cá nhân Tỷ Khưu Thích Thái Hòa mà thôi !"
Sau đó, Ông Trưởng Ban Tôn giáo nói : "Tôi xin ghi nhận ý kiến của Thầy và sẽ trình lên cấp trên, tôi không có quyền gì hết". Và Ông đã cho nhân viên nhận hồ sơ của tôi, rồi nói với tôi rằng : "Thầy cứ về, có việc gì thì tôi sẽ cho người liên lạc báo tin Thầy biết".
Nhưng, từ ngày 21 tháng 08 đến ngày 02 tháng 09 năm 2000, tôi đã không nhận được một sự trả lời nào cả, mặc dù trong thời gian ấy tôi đã cho người liên lạc thường xuyên với văn phòng Ban Tôn Giáo để theo dõi hồ sơ, nhưng văn phòng Ban Tôn Giáo chính quyền trả lời rằng : "Đợi lệnh của Ban Tôn giáo Trung Ương chúng tôi mới giải quyết".
2. Ngày 24 tháng 08 năm 2000, tôi đã nhận được thư bằng Fax của Ngài Tổng Thư Ký Hội Nghị Thượng Đỉnh là Bawa Jain gởi, nội dung thư là để trả lời thư ngày 21 và 23 tháng 08 năm 2000 của Ông Nguyễn Thanh Châu- Đại Sứ và Đại Diện Thường trực Nước CHXHCN Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc- gồm có ba phần :
* Một là thư vừa trả lời cho Ông Nguyễn Thanh Châu mà đồng thời cũng là thư mời dự Hội Nghị Thượng Đỉnh cho :
Giáo Sư Lê Quang Vịnh-Trưởng Ban Tôn Giáo Chính Phủ Hà Nội.
Thượng Tọa Thích Thái Hòa (Nguyễn Trí) địa chỉ thường trú chùa Phước Duyên, hiện cư ngụ tại chùa Từ Hiếu- thôn Thượng II-xã Thủy Xuân -Thành Phố Huế-Việt Nam.
* Hai là yêu cầu giúp đỡ để Thượng Tọa Thích Thái Hòa có được hộ chiếu càng sớm càng tốt.
* Ba là nói về việc trả tiền vé máy bay và trả tiền khách sạn tại Nữu Ước cho hai vị tham dự Hội Nghị.
Thưa quý Ngài,
Điều gì đã xảy ra trong vấn đề tham dự Hội Nghị này, khiến Liên Hiệp Quốc gởi một văn thư mời đại diện Chính Phủ Việt Nam với một hình thức thiếu trân trọng như vậy?
3. Điều gì đã xảy ra tại Liên Hiệp Quốc khiến cho phái đoàn Tôn Giáo Việt Nam do Ban Tôn Giáo Chính Phủ chỉ đạo đến tham dự Hội Nghị ; xin các Ngài hãy quan tâm một cách khách quan để hiểu rõ sự thật của vấn đề, vì đây không phải là danh dự của một cá nhân hay một đoàn thể hoặc một Ban Ngành nào của Nhà Nước mà danh dự của cả một Quốc gia.
Từ những sự kiện trên, chúng tôi nhận định rằng :
1. Hiến Pháp và Luật Pháp Việt Nam đã thể hiện rõ ràng trên các văn bản, nhưng trên thật tế một số Cơ Quan Ban Ngành thuộc chức năng Hành pháp không thi hành một cách nghiêm túc, khiến cho tính chất nghiêm minh của Luật Pháp bị nhân dân ngộ nhận và đánh mất niềm tin ở nơi các Ngài lãnh đạo.
2. Việc Ban Tôn Giáo Chính Phủ sử dụng GHPGVN như là một bàn tay nối dài của chính quyền đã phản tác dụng và gây thiệt hại niềm tin không ít của nhân dân đối với Luật Pháp.
3. Việc Ban Tôn Giáo các cấp đòi tôi phải có giấy giới thiệu của GHPGVN mới cho xuất cảnh tham dự Hội Nghị là một xúc phạm không những về sự tự do tín ngưỡng của tôi mà còn xúc phạm đến quyền công dân và quyền sống con người của chúng tôi.
4. Với thủ tục rườm rà, hành chánh quan liêu là một trong những nguyên cớ dẫn tới sự tham nhũng, cửa quyền của một số Cán bộ, Đảng viên, làm cản trở sự phát triển Quốc gia và nó là đầu mối của sự mất niềm tin đối với nhân dân, đồng thời tạo nên sự nghèo đói của Đất Nước, khiến cho chủ trương "Xã Hội Công Bằng, Dân Chủ và Văn Minh" trở thành chiếc bánh vẽ.
5. Việc có hình thức và nội dung thư mời của Ông Tổng Thư Ký Hội Nghị Thượng Đỉnh Hòa Bình Thế Giới Thiên Niên Kỷ tại Liên Hiệp Quốc, gởi đến Ông Trưởng Ban Tôn Giáo Chính Phủ đã không đem lại sự vinh quang nào cho Nhà Nước và Nhân dân ta, vì thư mời quá trể (ngày 24/08/2000) và thiếu sự trân trọng.
6. Tăng Đoàn Thừa Thiên-Huế đã có Thư Nhận Định và Kiến Nghị do Ngài Thích Thiện Hạnh đại diện Tăng Đoàn ký đề ngày 11 tháng 07 năm 2000 gởi đến Tỉnh Ủy, Ủy Ban Nhân Dân và các Ban ngành liên hệ thuộc Tỉnh Thừa Thiên-Huế, đến nay đã trải qua hơn năm mươi ngày, nhưng Tỉnh Ủy và Chính Quyền Thừa Thiên chưa có một văn thư trả lời chính thức nào cả. Đây có phải là nền Hành chánh quan liêu hay là thái độ khinh thường ý kiến của nhân dân ở nơi những Người cầm quyền ?
Từ những nhận định ấy, tôi xin có những kiến nghị gởi đến quý Ngài như sau :
1. Yêu Nước và bảo vệ Đất Nước là sứ mệnh thiêng liêng của mọi người dân Việt Nam, yêu cầu quý Ngài không chấp nhận cho một cá nhân nào hay một đoàn thể nào trong xã hội độc quyền yêu Nước và bảo vệ Đất Nước.
2. Yêu cầu các Ngài chỉ đạo cho các cấp Chính Quyền, nỗ lực phát huy tính Dân Chủ đúng như Luật Pháp đã quy định.
3. Yêu cầu các Ngài tạo điều kiện để nâng cao trình độ nhận thức của các cán bộ Tôn giáo, để họ có khả năng nhận thức đúng những gì mà Tôn giáo có thể đóng góp cho con người và xã hội mà không nên có thành kiến hay lợi dụng Tôn