Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Điện Thư - Số 28
Tháng 10 năm 2004
Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Như đã minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam@yahoo.com
Tin Ghi Nhận:
----- O -----
Bức thư ngỏ
Kính gửi:
- Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Tổng bí thư Nông Đức Mạnh.
- Bộ Chính trị và ban Bí thư.
- Ban kiểm tra Trung ương Đảng.
- Ban bảo vệ Chính trị nội bộ Trung ương Đảng.
- Ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Ông Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
- Ông Chánh án Toà án tối cao.
Chúng tôi là những thương binh và thân nhân của những thương binh, liệt sĩ đã đổ máu trong bốn cuộc chiến tranh mà đất nước phải gánh chịu trong vòng gần 60 năm qua.
Dù không có thông tin và phải dành gần hết thời giờ hàng ngày cho việc mưu sinh đầy khó khăn, nhưng rồi chúng tôi cũng được biết một sự thật động trời: đó là vụ án chính trị siêu nghiêm trọng mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thượng tướng Nam Khánh và nhiều tướng tá, nhân sĩ khác gọi là : “Vụ án Tổng cục II” hoặc “Vụ T4”.
Thưa các cấp lãnh đạo;
Là những công dân lương thiện, tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và nhà nước, nay chúng tôi thấy hoang mang sợ hãi; cứ tưởng như trong chiêm bao - rất mong rằng mình đã đọc nhầm, nghe nhầm!
Nhưng nhầm sao được – Khi các văn bản kia có đầy đủ họ tên, chức vụ và địa chỉ đáng tin cậy của người gửi – cũng như tên, chức danh rõ ràng của nơi nhận ?
Chả nhẽ Đại tướng Giáp, Thượng tướng Khánh và nhiều vị khác là những công thần của đất nước này, từng được cả kẻ thù kính nể, lại là những người hồ đồ, nhìn nhầm, nói lẫn ?
Vậy nếu vụ này là có thật (mà chắc là có thật), thì chả nhẽ các vị lãnh đạo ở các cấp cao nhất của Đảng, nhà nước và quân đội, đã hoặc đang đứng đầu những tổ chức quyết định đến vận mệnh của quốc gia kia (xin không nêu lại tên); lại là những con người có nhân cách tồi tệ, hành xử phạm pháp đến như vậy ư ?
Thì cứ cho rằng họ chỉ là những cá nhân xảo quyệt, thoái hoá biến chất, chui sâu, leo cao. Vậy thì còn hàng vạn cán bộ Đảng viên chân chính; bầu ra hàng trăm uỷ viên BCH Trung ương gương mầu, hàng chục uỷ viên Bộ chính trị sáng suốt; qua ngần ấy nhiệm kì đại hội nghiêm túc; có một guồng máy to lớn đầy đủ các ban ngành chặt chẽ, có điều lệ và các nguyên tắc lãnh đạo đúng đắn; được các nghị quyết soi sáng dẫn dắt; tiêu tốn cơ man nào là tiền của của nhân dân – Đã làm được những gì ? Phải chịu trách nhiệm gì trong vụ án nghiêm trọng này ???
Chúng tôi thật sự hoang mang hoảng sợ là vì những nhẽ đó !
Chúng tôi cần có lòng tin để thống nhất hành động trong công cuộc đổi mới đất nước, thì lòng tin đó bây giờ cần phải đặt vào đâu ? Ai, tổ chức nào biết quan tâm lắng nghe nguyện vọng của chúng tôi, để thật sự cải thiện tình hình ? Hãy chỉ cho chúng tôi những tiêu chuẩn nào để có thể phân định được đâu là địch, còn đâu là ta ? Làm đến chủ tịch nước mà cầm đầu, giật dây, dung túng cho một tổ chức tình báo quan trọng bậc nhất của quốc gia, bịa đặt thông tin giả để hại anh em nội bộ, thậm chí đem bán cả kế hoạch phòng thủ bầu trời cho nước ngoài, thì phải gọi là chủ tịch gì ? Với những người như thế mà có những người chủ trương chỉ xét xử nội bộ, thì cái nội bộ ấy là nội bộ của ai ???
Tóm lại, chúng tôi cần và phải được biết toàn bộ sự thật của vụ án này. Vì an hay nguy của đất nước là an nguy của tất cả mọi người dân chúng tôi - chứ không phải của riêng Bộ Chính trị.
Chúng tôi cần những việc làm cụ thể, thiết thực, giúp chúng tôi vượt qua đói nghèo, lạc hậu. Chúng tôi muốn Đảng và những người lãnh đạo phải lành mạnh, quang minh chính đại, thực sự vì nước, vì dân; Chứ không cần những khẩu hiệu, những lời nói suông, hứa hẹn suông, nói một đường làm một nẻo.
Đảng đã chủ trương đúng rằng: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Vậy mà với một vụ án tày đình đến như thế - Một nhóm người có vai trò quyết định trong Bộ chính trị lại chủ trương giấu diếm sự thật với cả Ban chấp hành Trung ương (là tổ chức đã bầu ra BCT, và BCT phải có trách nhiệm báo cáo nó); Thì có phải là các vị này định dùng khẩu hiệu nói trên để giễu cợt, nhạo báng dân chúng tôi không ? Thật là khinh miệt chúng tôi quá lắm !
Xin những ai bị danh lợi làm cho loá mắt, đã nhẫn tâm quay lưng lại với nhân dân, cần phải hiểu rằng: Miếng cơm manh áo hàng ngày các vị dùng là do dân chúng tôi đóng góp; Các vị tiêu vặt cả ngàn đô-la như không, là lấy từ bữa ăn sáng của con em chúng tôi; Hàng triệu đô-la các vị gửi ở ngân hàng nước ngoài, không trực tiếp thì gián tiếp móc từ túi của dân đen chúng tôi; Những người đang canh gác cho các vị ngon giấc, cũng đều là con em chúng tôi cả; Thậm chí dưới nền móng ngôi biệt thự các vị đang ngự kia, có thể còn có hài cốt liệt sĩ là đồng đội của chúng tôi đấy !. Xin các vị hãy suy xét cho cẩn trọng !. Gieo gì thì phải gặt nấy - là chân lý bất biến của muôn đời. Hậu quả có thể thấy nhãn tiền, cũng có thể đến tận đời con cháu. Việc mộ ông Lê Đức Thọ bị ai đó đổ cứt lên mấy lần, phải bí mật đào đi chôn giấu ở chỗ khác – chắc các vị biết cả, chả nhẽ không nói lên được điều gì ư ?
Chúng tôi là những thường dân lương thiện, làm gì cũng phải có lề lối, phép tắc; Chứ không như ai đó quen dùng những thủ đoạn bỉ ổi, hèn mạt để vu oan, đánh lén, hại đến cả đồng chí, đồng đội của mình. Vì thế mà chúng tôi chân thành cùng nhau viết lá thư ngỏ này gửi đến các cấp lãnh đạo của Đảng, với hy vọng các vị lấy lại được công tâm mà làm cho rõ trắng đen, phải trái của vụ án tồi tệ nhất lịch sử này; Rồi công bố sự thật cho bàn dân thiên hạ biết; Xét xử đúng người đúng tội, không được bỏ sót một ai. Có thế thì may chăng lòng tin của dân chúng và kỷ cương phép nước mới được vãn hồi. Dân chúng tôi mới có thể sinh sống yên ổn được.
Còn nếu vì bất cứ lý do gì mà bao che tội phạm, xử lý nội bộ rồi ỉm đi – thì đấy là những người đã cố ý phá vỡ khối đoàn kết toàn dân, làm tan rã chút hy vọng còn sót lại của dân chúng. Hậu quả xấu của nó chưa thể lường hết được đâu. Đúng như thượng tướng Nam Khánh nói: “Không ai có thể che giấu và bịt kín được sự thật, sự thật sẽ tự mở đường mà đi”.
Chúng tôi cũng cho rằng: Không ai cầm quyền mà có bụng Bồ-tát, tự đem dân chủ đến cho chúng tôi đâu. Muốn có dân chủ, chúng tôi phải hiểu rõ nó, và phải biết cách giành lấy.
Xin những ai còn có công tâm, còn biết xót thương nòi giống, còn nghĩ đến chúng tôi – xin hãy giúp chúng tôi giành lấy dân chủ bằng con đường hợp pháp và hoà bình. Vì cái giá của sự đổ vỡ mà con đường bạo lực đem lại chúng tôi đã biết và chịu đựng quá đủ rồi !
Sự thật phải được đem ra soi dưới ánh sáng mặt trời công lý. Dân chủ và tự do là khát vọng chính đáng của con người. Chỉ có kiên trì con đường dân chủ thật sự mới hy vọng chữa lành dần những căn bệnh trầm kha mà xã hội đang mắc phải. Người Việt Nam ta không phải là một nòi giống hèn kém, khiếp nhược, phải được hưởng quyền tự do dân chủ ấy.
Chúng tôi biết ơn những ai đã bớt chút thời giờ đọc lá thư này, và cảm thông với nguyện vọng của chúng tôi, cùng chúng tôi phấn đấu cho một ngày mai tốt đẹp hơn.
Hà Tây ngày 11/10/2004.
Ký tên : Trần Công-Lý.
Thay mặt cho những công dân là thương bệnh binh của các cuộc chiến tranh mà dân tộc đã phải chịu đựng trong gần 60 năm qua.
----- O -----
Chủ nghĩa thực dân và văn học tiếng mẹ đẻ.
(Tham luận Hội thảo văn học Châu Á -Thái bình dương 2004,
Tổ chức từ ngày 19 đến 21-11-2004 tại Đài Loan.)
Nhà văn Hoàng Tiến
Kính thưa quý vị,
Trước hết tôi xin hoan nghênh sáng kiến mở cuộc hội thảo này, nó chứng tỏ sự thay đổi và phát triển của vùng đất Châu á-Thái bình dương, nó làm cho thế giới nhích lại gần nhau hơn, hiểu biết nhau hơn; cũng như làm cho các quốc gia vùng đất Châu Á-Thái bình dương thương yêu nhau hơn, đoàn kết nhau hơn. Thế giới thường gọi chúng ta là những quốc gia đồng văn đồng chủng.
Vào các thế kỷ cuối của thiên niên kỷ II (thế kỷ 18, 19 và 20) những thế lực thực dân phương Tây lan tràn như vết dầu loang, xâm chiếm dần dần các vùng đất Châu á-Thái bình dương. Có nơi chúng chiếm hẳn làm thuộc địa (như nhiều nước vùng Đông nam á, trong đó có Việt Nam), có nơi chúng chiếm từng phần lãnh thổ với những hiệp ước gọi là tô giới (như Trung Quốc rộng lớn) Nói gọn lại, các nước vùng Châu Á-Thái bình dương hầu hết đã trở thành thuộc địa hoặc bán thuộc địa của chủ nghĩa thực dân thế kỷ 19 và 20.
Chủ nghĩa thực dân bành trướng như vậy để làm gì ? Hẳn không ngoài những lý do các nhà nghiên cứu đã nói lâu nay, chúng nhằm chiếm nhân công, nguyên liệu và thị trường.
Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị chủ nghĩa thực dân bắt đầu từ đấy. ở Việt Nam cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân kéo dài 127 năm (tính từ khi liên quân Pháp và Tây-ban-nha nổ phát súng xâm lược bắn vào cửa bể Đà Nẵng 1848 cho đến khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước 1975 thoát khỏi chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ).
Một trăm năm với một phần tư thé kỷ đấu tranh giành độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, chúng tôi đã phải trả một giá khá đắt bằng xương máu của dân tộc mình. Bây giờ chúng tôi phải dồn sức vào xây dựng và phát triển kinh tế, vì nước chúng tôi cho đến nay vẫn còn là một nước nghèo trên hành tinh. Chúng tôi lấy điều đó làm xấu hổ, và đang gắng sức thoát khỏi cảnh nghèo túng để sánh vai cùng các quốc gia phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới.
Trước khi chủ nghĩa thực dân xâm chiếm Việt Nam thì chúng tôi đã có chữ viết. Đó là khối chữ vuông, nhiều nét, gọi là chữ tượng hình tượng ý (écriture de choses et de mots). Trong đó khái niệm từ được biểu hiện bằng một tín hiệu duy nhất không có liên quan gì đến những âm thanh cấu tạo của từ. Tín hiệu này có quan hệ với cả từ, và do đó, cũng gián tiếp có quan hệ với ý niệm mà từ biểu hiện. Lối chữ này nguyên của người Trung Quốc, thường gọi là chữ Hán, nhưng được người Việt Nam viết và đọc theo âm Hán Việt.
Thí dụ: Một đoạn trong Bình Ngô đại cáo:
Đọc theo âm Hán Việt:
Tự Đinh, Lê, Lý, Trần chi triệu đạo ngã quốc
Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương
Tuy cường nhược thời hữu bất đồng
Nhi hào kiệt thế vị thường phạp ......
Dịch theo nghĩa quốc ngữ:
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có ......
Chữ Hán vào Việt Nam từ bao giờ ? Giới nho sĩ xưa cho rằng, khởi sự là từ Sĩ Nhiếp (năm 187 — 226 sau CN). Ông này người phương Bắc làm thái thú đất Giao Chỉ, đã dâng sớ xin vua Hán đổi Giao Chỉ thành Giao Châu, có công mở mang việc học hành cho vùng đất này. Cảm mộ công đức ấy người Việt Nam tôn ông là Nam Giao học tổ và xưng tụng là Sĩ vương.
Xin dừng một chút, để giải thích về quốc hiệu Việt Nam. Việt Nam chỉ là tên gọi từ đời vua Nguyễn Gia Long (1802 — 1819). Trước đó quốc gia này có các tên gọi Văn Lang, Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt; thời Bắc thuộc còn có các tên gọi Tượng Quận, Nam Việt, Giao Chỉ, Giao Châu, An Nam đô hộ phủ .....
Đến khi Gia Long đánh thắng nhà Tây Sơn lên ngôi, trong sớ cầu phong với Trung Quốc đặt tên là Nam Việt, nhưng vua nhà Thanh không chịu, cho rằng Nam Việt là tên nước cũ của Triệu Đà gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây, nên đổi là Việt Nam.
Đến đời vua Minh Mệnh nhà Nguyễn (1820 — 1840) lại cải là Đại Nam
Từ Cách mạng Tháng 8 (1945) đến nay gọi là Việt Nam (chính thức ghi trong Hiến pháp nước CHXHCNVN).
Để đỡ thành ngộ nhận, tôi xin phép được dùng từ Việt Nam, dân tộc Việt Nam, để chỉ vùng đất này, bao gồm cả những tổ tiên đã sống tự thời xa xưa.
Trên thực tế chữ Hán vào Việt Nam sớm hơn thời Sĩ Nhiếp khá nhiều. Đất Giao chỉ tính từ khi bị nhà Hán cai trị (năm Canh Ngọ -111 trước CN) đến đời Sĩ Nhiếp đã được hơn 300 năm. Người Giao Chỉ đã có người học hành thi đỗ hiếu liêm, mậu tài (những học vị của thời xưa) như Lý Tiến, Trương Trọng ... được cử đi làm quan ở các nơi bên Trung Quốc.
Người Hán sang làm quan cai trị ở Việt Nam có thể đã dùng chữ Hán phiên âm một số địa danh Giao Chỉ, nên một số làng cổ ở Việt Nam có tên tục lại có tên chữ. (Thí dụ: Làng Noi tên chữ là Cổ Nhuế; làng Nành tên chữ là Phù Ninh ...vv...)
Trong sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn có dẫn sách “Sứ Giao Châu thi tập” của Trần Cương Trung đời Nguyên sang Việt Nam có dùng chữ Hán ghi âm một số tiếng Việt như:
- Mặt blời (mặt trời) được ghi là Mạt bột lồi (ta đọc theo âm Hán Việt)
- Mặt blăng (mặt trăng) được ghi là Mạt lăng ;
- Con trai được ghi là Can đa ;
- Con gái được ghi là Can ái ...vv.....
Điều này có thể đã gợi ý cho các nho sĩ Việt Nam, dùng chữ Hán ghi âm tiếng Việt, tao ra một thứ chữ gọi là chữ Nôm (đọc trệch âm của từ Nam). Chữ Nôm đã trở thành chữ của người Việt, ngày càng đông người học theo, nó được viết trông giống chữ Hán, nhưng được đọc hoàn toàn theo âm Việt thuần túy. Thí dụ:
Phát âm:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy đã đau đớn lòng .....
(Truyện Kiều — Nguyễn Du)
Theo sách “Vũ trung tùy bút” của Phạm Định Hổ thì từ đời các vua Lê trung hưng trở đi (sử gọi là thời Hậu Lê—thế kỷ 16): “những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ Nam [......]. Ai học theo lối chữ ấy, thì sáu năm một lần thi, trúng tuyển được sung vào làm chân thư tả ở trong các nha môn” ...
Đến đời vua Quang Trung (1788 — 1792), chữ Nôm được thịnh hành trong công việc hành chính, chẳng những các đơn từ kiện cáo của dân chúng viết bằng chữ Nôm, mà các sắc phong, chiếu, chỉ, bố cáo của vua quan cũng dùng chữ Nôm.
Đời nhà Nguyễn, triều vua Minh Mệnh (1820 — 1840) lại bỏ chữ Nôm, học trò đi thi và các sớ tâu đều phải dùng toàn chữ Hán, mà phải viết cho đúng với từ điển Khang Hy.
Chữ Nôm ở Việt Nam có từ bao giờ? Tương truyền có từ đời nhà Trần với bài văn té cá sấu của Nguyễn Thuyên (sau được vua ban đổi là Hàn Thuyên, vì cũng giống câu chuyện Hàn Dũ ở phương Bắc làm thơ đuổi cá sấu). Bài văn tế cá sấu còn tryền lại như sau:
Ngạc ngư kia hỡi mày có hay
Biển Đông rộng rãi là nơi mày
Phú Lương đây thuộc về thánh vực
Lạc lối đâu mà lại đến đây ?
Há chẳng nhớ rằng nước Việt xưa
Dân quen chài lưới chẳng tay vừa
Đời Hùng vẽ mình vua từng dạy
Xuống nước giao long cũng phải chừa.
Thánh thần nối dõi bản triều nay
Dấy từ hai ấp ngôi trời thay
Võ công lừng lấy bốn phương tĩnh
Biển lặng sông trong mới có rày.
Hùm thiêng ra dấu dân cầy cấy
Nhân vật đều yên đâu ở đấy
Ta vâng đế mạng bảo cho mày
Hãy về biển Đông mà vùng vẫy.
Nhưng trên thực tế, chữ Nôm đã được dùng trước thời Hàn Thuyên khá nhiều. Tấm bia chùa Báo Ân, xã Tháp Miếu, huyện Yên Lãng, tỉnh Vĩnh Phú đề niên hiệu Trị Bình Long ứng năm thứ 5 tức năm cuối cùng đời vua Lý Cao Tông (1210), có 24 chữ Nôm cấu trúc rất gần với sau này. Cho nên có thể hiểu chữ Nôm đến đời Hàn Thuyên đã khá thịnh hành, nhiều người làm thơ chữ Nôm, mà Hàn Thuyên là một ví dụ.
Nhưng phải đến thế kỷ thứ 18 và 19 mới nở rộ một dòng văn học chữ Nôm. Những truyện Nôm khuyết danh như: Phan Trần, Nhị độ mai, Trê Cóc, Trinh thử, Phạm Công-Cúc Hoa, Phạm Tải-Ngọc Hoa, Thạch Sanh ...vv... và các truyện Nôm hữu danh với các tác giả tên tuổi: Cung oán ngâm khúc của Nguyến Gia Thiều, Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm, Sơ kính tân trang của Phạm Thái ......; nổi tiếng hơn cả là Truyện Kiều của Nguyễn Du và thơ nôm Hồ Xuân Hương. (Riêng một thư viện Khoa học Xã hội Hà Nội cũng có thư mục của 1186 cuốn sách chữ Nôm)
Chữ Nôm thành lối chữ thứ hai, đã được người Việt Nam dùng, ngoài chữ Hán. Nhược điểm của nó là chưa có quy phạm rõ ràng như chữ Hán. Một chữ có thể đọc bốn năm cách khác nhau, thí dụ:
+ Chữ có thể đọc: vinh (vinh hiển)
.......................... : vang (vẻ vang)
.......................... : vành (vành ra)
.......................... : vênh (vênh váo)
.......................... : vểnh (vểnh tai)
Ngược lại, một từ cũng có thể hàng chục cách viết, thí dụ:
+ Từ bay, có thể viết:
(bay nhảy) (hương bay)
(mây bay) (chuồn chuồn bay)
(cái bay trát vữa) (bay lượn) ...vv...
Đến đầu thế kỷ thứ 20, nước Việt Nam dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, những trí thức tây học bấy giờ nhận thấy lối chữ viết theo tự mẫu Latinh của người phương Tây, rất là tiện lợi, rất là khoa học. Đó là loại chữ ngữ âm (écriture de sons), vốn nhằm tái hiện chuỗi âm thanh nối tiếp nhau trong khái niệm từ. Các hệ thống chữ viết ngữ âm có thể ghi âm tiết hay ghi âm tố, nghĩa là căn cứ vào những yếu tố không chia nhỏ hơn được nữa của tiếng nói.
Họ bèn dấy lên một cuộc cách mạng chữ viết, hô hào đồng bào học chữ quốc ngữ, viết chữ quốc ngữ. Họ gom tiền mở nhà in, viết báo, viết sách bằng chữ quốc ngữ.
Nguồn gốc chữ quốc ngữ khởi tự ở các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt Nam từ thế kỷ thứ 16. Các nhà truyền giáo, học nói tiếng Việt, ghi âm tiếng Việt bằng tự mẫu latinh, để phục vụ công việc truyền đạo. Những người có công trong việc này là các cha cố Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, António Barbosa, và nhất là cha cố Alexandre de Rhodes (1591 — 1660) đã cho in cuốn từ điển Annam Bồđàonha Latinh (Dictionarium Annamaticum Lusitanum et Latinum) và Bản liệt kê tóm tắt về tiếng Annam hay Đông kinh (Brève description de la langue annamite ou tonkinoise)
Việc phổ cập một lối ghi âm mới trong tiếng Việt lại đi song hàng với cuộc xâm lược của thực dân Pháp, đã làm nhiều người Việt Nam khó chấp nhận. Người ta căm thù bọn xâm lược và ghét lây cả những người cố đạo sang truyền giáo ở Việt Nam.
Ấy thế mà, những người trí thức Việt Nam, đã sớm nhìn ra việc lợi hại của thứ chữ này, và vượt qua sự mặc cảm cùng sự kỳ thị ngoại lai thường có ở những người dân mất nước, họ cổ vũ việc dùng thứ chữ trên, in sách, in báo, nhằm truyền bá nó trong quảng đại quần chúng, và gọi nó là chữ quốc ngữ, nghĩa là chữ của nước mình.
Công lao phải kể là các ông Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của ở trong Nam, ngoài Bắc phải ghi nhận công lớn cho ông Nguyễn Văn Vĩnh cùng các cộng sự trong Đông Dương tạp chí, rồi đến ông Phạm Quỳnh cùng các cộng sự trong Nam Phong tạp chí, rồi đến cụ Nguyễn Văn Tố với Hội Truyền bá quốc ngữ ... vv .....
Đúng là một báu vật đã lọt vào tay người Việt Nam.
Chữ quốc ngữ trong hơn một thế kỷ qua đã tỏ rõ sức mạnh thần kỳ của nó, khi biểu thị cách phát âm đa cung bậc của tiếng Việt (có sáu thanh tương đương với sáu dấu: không, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng), trình bày được tư tưởng cùng bộc bạch mọi trạng huống xúc cảm của người Việt Nam.
So với chữ Nôm chữ quốc ngữ tiện lợi hơn biết bao nhiêu, học nhanh chóng hơn biết bao nhiêu. Muốn đọc được chữ Nôm phải biết chữ Hán, thời gian mất vào khá nhiều, huống hồ cách viết chữ Nôm mỗi nhà nho từng vùng viết khác nhau một chút, chưa thành quy phạm cả nước, gây ra nhiều lầm lẫn trong sách vở hiện còn lưu lại.
Còn chữ quốc ngữ, người bình thường chỉ học độ mươi ngày, kẻ thông minh chỉ hai ba buổi là có thể biết đọc biết viết. Theo các nhà ngôn ngữ, tựu trung loài người có hai dạng chữ viết. Dạng chữ tượng hình (écriture de choses) và dạng chữ ngữ âm (écriture de sons), thì người Việt Nam, do hoàn cảnh lịch sử, đều có cả hai dạng chữ trên.
Năm 1945 chúng tôi làm cuộc Cách mạng Tháng 8 giành độc lập, thoát khỏi sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân, mở ra một trang sử mới, thành lập một nhà nước không vua dân làm chủ, gọi là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, do cụ Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
Ngay từ những ngày đầu tiên của chính quyền mới, biết bao khó khăn phải đối phó: nạn đói, chết đói gần hai triệu người vào tháng 3-1945 dưới thời phát xít Nhật còn lưu lại di hại; nạn lụt, vỡ đê sông Hồng năm 1946; ngoài Bắc thì 18 vạn quân đội Tưởng Giới Thạch sang tước vũ khí quân đội Nhật Bản theo lệnh Đồng Minh; trong Nam thì quân đội Anh ấn vào giải giáp quân đội Nhật, quân đội Pháp lấy cớ kéo theo gây hấn với quân đội cách mạng non trẻ từ 23-9-1946 hòng chiếm lại thuộc địa cũ.
Trước tình hình ấy Hồ Chủ tịch kêu gọi: chống giặc đói, giặc dốt, và giặc ngoại xâm.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch là các phong trào tăng gia sản xuất (các vườn hoa công cộng, các vườn hoa nơi công sở đều được cuốc xới trồng ngô, khoai, sắn), phong trào đắp đê chống lụt, phong trào hũ gạo tiết kiệm Chính cụ Hồ gương mẫu mổi tuần nhịn một bữa lấy gạo chống đói.
Chống giặc dốt có phong trào bình dân học vụ. Toàn dân nô nức đi học để thoát nạn mù chữ. Người biết chữ dạy người chưa biết chữ. Học ban ngày,học ban đêm. Học trong nhà, học ngoài vườn. Trẻ đi học. Già đi học. Lấy chữ quốc ngữ làm chữ chính thức của cả nước.
Và phong trào Nam tiến chống giặc Pháp theo chân quân đội Anh ấn trở lại xâm lược miền Nam. Hàng đoàn tầu hoả nối nhau ngày đêm chở những thanh niên vô Nam giết giặc. Những bài hát, những khẩu hiệu hừng hực khí thế thà chết chứ không quay lại làm nô lệ một lần nữa:
— Người Việt Nam xin đừng quên
Hơn sáu mươi niên
Loài lang thú chuyên quyền, róc xương thịt mình
Trời Việt Nam khốc tàn điêu linh .....— Tiếng súng vang sông núi miền Nam
ầm đất nước Việt Nam
Tiếng súng vang lừng khắp non sông
Giục ta ra tranh đấu .......— Tiến lên đường, tới sa trường
Ta xứng danh là cảm tử quân .......
Tất cả những sách báo, lời kêu gọi, những sắc lệnh của chính phủ, thông tri, chỉ thị ..... đều hoàn toàn dùng chữ quốc ngữ, nghĩa là bằng tiếng mẹ đẻ (trước kia còn dùng chữ Hán hoặc chữ Pháp)
Ngày 19-8-1945 cách mạng thành công thì ngày 8-9-1945 Hồ Chủ tịch ký ba sắc lệnh về Bình dân học vụ (số 17/SL; số 19/SL và số 20/SL). Tháng 9 – 1945 khai giảng năm học đầu tiên của cách mạng, từ các trường phổ thông đến đại học đều giảng dạy bằng tiếng Việt, nhân dịp này Hồ Chủ tịch đã gửi thư cho học sinh cả nước.
Tháng 10-1945 Hồ Chủ tịch viết “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”.
Ngày 10-8-1946 Hồ Chủ tịch ký hai sắc lệnh cùng ngày. Sắc lệnh 146/SL quy định ba nguyên tắc của nền giáo dục mới (đại chúng hoá, dân tộc hoá, khoa học hoá), và xây dựng một hệ thống giáo dục từ bậc học ấu trĩ đến bậc học đại học. Sắc lệnh 147/SL ấn định những điều khoản đề thực hiện bậc học cơ bản, như không phải trả tiền và các môn học đều dạy bằng tiếng Việt.
Lễ tuyên bố độc lập ngày 2-9-1946 tại quảng trường Ba Đình thì hôm sau ngày 3-9 trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ Lâm thời Hồ Chủ tịch đưa ra đề nghị “mở chiến dịch chống nạn mù chữ”. Đây là một thứ giặc còn nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm, nên được xếp hàng thứ hai sau giặc đói. (Giặc đói. giặc dốt và giặc ngoại xâm).
Cùng ngày 3 – 9 ban hành tiếp sắc lệnh 172/SL gia hạn một năm để mọi người học chữ quốc ngữ, đọc thông viết thạo. Được sự quan tâm của chính quyền mới như vậy, chữ quốc ngữ dù sinh sau đẻ muộn, thực sự đã trở thành một sức mạnh vô song. Nói riêng về mặt văn học, chúng tôi đã có cả một khối văn học chữ quốc ngữ từ hậu bán thế kỷ thứ 20 trước cách mạng Tháng 8, rồi trong kháng chiến chống Pháp, trong kháng chiến chống Mỹ, rồi sau thống nhất đất nước 1975 và trong công cuộc đổi mới kinh tế hiện nay, với đủ mọi loại hình như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, lý luận phê bình, sách nghiên cứu các loại, sử học, triết học, khoa học .... bằng tiếng mẹ đẻ.
Như vậy, ở Việt Nam chúng tôi, nền văn học bao gồm ba khối chữ:
Chỉ nên hiểu phân chia một cách áng chừng theo khối lượng các dạng chữ được dùng nhiều ít trong các thế kỷ. Vì cho đến giữa thế kỷ 20, vẫn có người sáng tác bằng chữ Hán, thí dụ như chủ tịch Hồ Chí Minh. Và hiện nay ở Hà Nội vẫn có những ông đồ tân thời ngồi viết thư pháp bằng chữ Hán mỗi dịp xuân về.
Chữ quốc ngữ hiện nay là chữ chính thức dùng trong cả nước. Nó dễ phổ cập lại có tính khoa học cao. Tất nhiên cần hoàn chỉnh thêm cho nó được mỹ mãn hơn, như giữa I và Y; giữa C, K và Q ...vv... Chúng tôi tin tưởng rằng, nó sẽ là thứ ngôn ngữ nhiều nước sẽ biết đến, nhiều người sẽ học nó, nhất là với những ai muốn tìm hiểu tư tưởng và tâm hồn người Việt Nam.
Một việc rất cần thiết hiện nay chúng tôi đang làm là chuyển ngữ khối văn học chữ Hán và chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, để con cháu chúng tôi ít biết chữ Hán và chữ Nôm, có thể dễ dàng tìm hiểu được tổ tiên mình.
Có thể rút ra một kết luận. Chủ nghĩa thực dân là đáng ghét, đáng lên án, vì nó là hành động không công bằng, áp bức, bóc lột các dân tộc chậm phát triển; nhưng nó có những mặt đáng tiếp thụ, đáng học tập, như về khoa học kỹ thuật, cách tổ chức xã hội và sự phát triển sản xuất.
Người Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ: “Cái khó ló cái khôn”. Chúng tôi không được phép chỉ than vãn, trách oán cảnh ngộ, từ một nước thuộc địa nô lệ của chủ nghĩa thực dân, chúng tôi phải đứng lên, hấp thụ những tinh hoa của nó biến thành tinh hoa của mình, để tồn tại và phát triển. Và chúng tôi đã làm được như thế dưới thời Bắc thuộc hơn 1000 năm; cũng như chúng tôi đã làm được như thế dưới thời Pháp thuộc gần 100 năm.
Từ thứ chữ ghi âm tiếng Việt bằng tự mẫu Latinh của các cha cố phương Tây, chủ yếu để phục vụ việc truyền đạo Thiên Chúa, những người trí thức Việt Nam đã biến nó thành thứ chữ của nước mình. Ngày nay nó là chữ viết của người Việt sánh vai cùng các thứ chữ Pháp, Anh, Nga, ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên ...vv... Nó cập nhật được với khoa học kỹ thuật hiện đại, truyền tin viễn thông và computer. Chúng tôi tự hào về điều đó.
Không than vãn cảnh ngộ, biết tận dụng cảnh ngộ để đứng lên và phát triển, đó là bài học rút ra được qua việc hình thành nền văn học tiếng mẹ đẻ của chúng tôi.
Xin cám ơn tất cả các quý vị đã tham gia hội thảo và cho tôi có dịp được giới thiệu về tiếng Việt của đất nước mình. Một lần nữa chúng tôi xin cám ơn ban tổ chức và tất cả các quý vị.
Hà Nội ngày 25 tháng 6 năm 2004
Hoàng Tiến, nhà văn
Địa chỉ:
Nhà A 11 Phòng 420
Thanh Xuân Bắc — Hà Nội.
----- O -----
Cùng Người Bạn Ngẫu Nhiên ...
Vài ba ý Ngẫu Nhiên (?) ...
Sau một lần Ngẫu Nhiên (?) ...
Tinh Tiến
Một Chặng Đường Quan Niệm
Một cốt cách "tiên thiên" giống như hàng tỷ những cốt cách khác, một phần tử mất hút trong hàng tỷ người chen chúc nhau trên Trái Đất này, tôi vốn vẫn có cách nhìn nhận mọi việc qua gọng kính mà cuộc đời "vô ngã" (impersonel) đã chụp vào mắt tôi từ thuở lọt lòng. Do đó, trước đây xa lắm, tôi cũng có thái độ rất trọng thị người trí thức, hiểu theo cái nghĩa mà hiện nay đại đa số vẫn hiểu: Trí thức là người có học vị cao, có những sáng tác tiếng tăm, có danh vọng nhờ trí tuệ, có thể cả đạo cao, đức trọng nữa. Khỏi nói đến các nhà bác học, đến các giải Nobel. Thế rồi, khoảng đầu và giữa của nửa sau TK 20, tôi đã thấy, đã nghe, và dần dần tôi chợt "ngộ" một điều: Thì ra cái gọi là "trí thức" ấy nhiều khi cũng rất ngu. Sau này, nhờ võ vẽ đôi điều về Phật giáo, tôi thành thực tâm đắc với, "thành thực" không phải vì Watson là Watson: "Trái với ý kiến thường được giới truyền thông và các bà mẹ của các nhà bác học củng cố, họ (bác học) đầu óc hẹp hòi, và tuy không đến nỗi lố bịch, hoàn toàn ngu dốt". Tuy "tâm đắc" nhưng vẫn còn một cái gì chưa ổn. Và rồi ...
Lâu lắm, ngẫu nhiên một lần tôi đọc trên tạp chí Văn Nghệ một truyện ngắn của một cây bút lúc ấy chưa hề có tiếng tăm. Tôi ngạc nhiên hết sức, sao lại nẩy nòi một "của độc" như thế được nhỉ ? Một hôm, giữa lúc nhậu nhẹt một đám cưới, tôi nói đến cái ngạc nhiên của tôi với một nhà phê bình văn học trẻ, và nhận được câu trả lời cũng khá đáng ngạc nhiên: "Nguyễn Huy Thiệp cũng như bọn em, là những đứa con hoang". "Khá" đấy, đúng không, nhưng vẫn còn một cái gì chưa ổn.
Thế rồi sau đó, cũng lâu rồi và cũng ngẫu nhiên thôi, tôi được đọc một tiểu luận chính trị của nhà khoa học Nguyễn Thanh Giang, và một lần nữa tôi lại bàng hoàng: Nguyễn Thanh Giang nêu lên những đề nghị và nhận định không thể có được trong đầu một con người như anh. "Như anh" nghĩa là gì nhỉ ? "Con hoang" ư ? Đã nói rồi mà, chưa ổn đâu.
* * *
Họ đều sinh ra trong Một nhà hộ sinh, lớn lên trong Một kiểu gia đình, học hành dưới Một mái trường, giao tiếp với Một mẫu người, xem Một tờ báo, đọc Một quyến sách, v.. v.. Tóm tắt toàn là Một cả.
Tôi một thời rất tín nhiệm "ứng xử luận" (behaviourism), thậm chí cũng tin như Steinbeck, một kiện tướng của trường phái: "Hãy cho tôi đủ điều kiện, tôi sẽ tạo ra bất kỳ con người nào mà anh muốn đặt hàng". Vậy thì "con hoang" sao được ! Thế mà lại vẫn là "con hoang" trên một chừng mực ngữ nghĩa và hiện thực nào đó. Và tôi linh cảm rằng chính ở đây vấn đề "trí thức" sẽ có cơ may được giải toả phần nào.
Trí Thức, mặt từ nguyên và thực tiễn đời sống.
Chúng ta sẽ đi tới "trí thức" qua ba trạm giao liên: Tri, Thức và Trí.
Mỗi con người đều được trang bị "tiên thiên" hay "câu sinh" năm giác quan có tính năng đặc thù là chỉ tương tác với những đối tượng đặc thù cho riêng nó: Mắt chỉ tương tác với sắc, tai chỉ tương tác với thanh, ... Tương tác ấy, được biết duy nhất và được gọi là Giác. Mỗi lần tương tác, "phẩm chất" của Giác đọng lại trong "giác quan" thứ sáu là bộ não. Đứa trẻ sờ vào cái sau này nó gọi là lửa, có cảm giác đau đớn, khó chịu, sau này nó gọi là rát bỏng, từ đấy hễ thấy lửa là nó không sờ vào nữa, bởi vì nó đã trang bị cho nó một cái "biết", tức là Tri.
Càng lớn lên trong lòng gia đình, xã hội, đứa trẻ ngày càng tích tụ nhiều tri, và cũng từ đấy nó tương tác với sự vật bên ngoài chỉ thông qua Tri, còn Giác mất hút vào hố thẳm quá khứ cùng với "hài nhi", vì thế chúng tôi không lấy Giác làm một trạm giao liên trên đường "tam cố thảo lư" tìm gặp Trí Thức. Nhờ có tri, nó biết ứng xử tối ưu theo nghĩa thu lợi nhiều nhất cho bản thân nó, bởi vì Tri giúp nó Phân Biệt các sự vật bên ngoài: cái này khác với cái kia, cái kia khác với cái nọ. Khả năng phân biệt quý hoá đó gọi là Thức. Thức dựa trên Tri mà hình thành, Tri dựa vào Thức mà hiện hữu, ít nhất ta tạm hiểu rằng cả Tri, cả Thức đều là những yếu tố câu sinh, nằm phục trong con người. Nói cách khác, con người vốn dĩ bị điều kiện hoá ngay từ bào thai, và chính tình trạng Điều Kiện Hoá này sẽ qui định cái gọi là thân phận con người.
Tri thường kết hợp với Thức để cho Tri Thức, những cái biết được đúc sẵn bởi ai đó không dễ gì minh định tính danh, được chất chứa trong đầu để "khi tình huống xẩy ra" sẽ đem ứng phó với hy vọng hoặc niềm tin sẽ thành tựu hiệu năng. Hiệu năng này, trên hai mặt sinh học và xã hội, lớn đến đâu là tuỳ theo số lượng và chất lượng tri thức. Từ đó, Tri Thức sẽ đưa tới cái sai lầm, cái mê muội lớn lao của đại đa phần "chúng sinh", đó là quan niệm về Trí Thức. Bởi vì tuyệt đại đa số đã lẫn lộn Tri và Trí.
Cũng giống như đằng sau vật thể là năng lượng, đằng sau năng lượng là thông tin, đằng sau thông tin là chân không vật lý; đằng sau Giác, Tri và Thức là Trí mà ba cái trước chỉ là sự lộ thể của Trí bị điều kiện hoá, mà đã "điều kiện hoá" thì chẳng có gì để nói tới cái gọi là Chân Lý cả.
Dù Trí xuất hiện dưới dạng Thức nào thì vẫn là Trí bị điều kiện hoá, đúng hơn bị "tha hoá". Nhưng mức độ thì có khác nhau. Sự khác nhau này liên quan tới cái mà ở trên gọi là mặt sinh học và xã hội của chủ thể tích tụ tri thức. Khi sự tích tụ này không quá thiên trọng mặt sinh học, tức là mục tiêu ăn ngon, mặc đẹp; cũng không quá thiên trọng mặt xã hội, tức là mục tiêu danh vọng, quyền lực, mà lại khuynh hướng về Trí Tuệ, cách lộ thể thuần khiết của Trí, thì chính lúc ấy chúng ta có dịp trực diện với Trí Thức.
Nói chung, nhưng không hề là tất yếu, "tri thức" thường là điều kiện cần của Trí Thức: người trí thức thường có tri thức; nhưng tuyệt đối không phải là điều kiện đủ: Nếu không phải thế thì bất kỳ một người thợ chữa xe máy lành nghề, một chị bán vải sành sỏi đều phải xem là trí thức như bất kỳ một anh bác sĩ chuyên mổ người hay chó, một chị y tá chuyên băng bó người hay chó. Mặt khác, số lượng và chất lượng tri thức, trong nhiều trường hợp, rồi ra cũng phần nào đưa tới, ít nữa một cái gì đó có tính Trí Tuệ, nghĩa là rồi ra dẫn "đương sự" tới cái gì đó gần với đẳng cấp trí thức. Hiện tượng này chắc chắn nhất để xẩy ra là khi "đương sự" ngày càng có khuynh hướng xa rời, chí ít không quá gắn bó với dục lạc sinh học và xã hội, ngày càng ham thích sống trên những từng mây platonique của tư tưởng, bất kể cái giá phải trả dưới mặt đất. Như thế, Nguyễn Thanh Giang đúng là một trí thức.
Là trí thức không hàm nghĩa đạo đức như ta thường hiểu dễ dãi nhưng rất "thực dụng chủ nghĩa". Người trí thức không tất yếu phải có tố chất yêu nước, thương nòi, vì người, quên mình, ... dù điều này thường thấy nơi người trí thức, đối lại đôi khi người trí thức có ý nghĩ và hành xử mang sắc thái mà người đời gọi là "phi luân", immoral như André Gide chẳng hạn, và, trong chừng mực nhỏ hơn, nơi ...
Một lần đâu đó, tôi đọc được một định nghĩa "trí thức" trong từ điển Oxford "Người trí thức là người luôn có khát vọng Tự Do, (nhất là ở Nga)". Tôi rất thích định nghĩa này và thấy nó rất "hợp lý". Trí Thức là phải có Khuynh Hướng Trí Tuệ bao chùm mọi khuynh hướng khác nơi mình. Trí Tuệ lại buộc phải đẩy ra một cái gì ta thường gọi là Sáng Tạo. Sáng tạo đúng nghĩa nhất bao giờ cũng trái khoáy với những cái đã có đấy rồi và vẫn được mọi người "xài" một cách ngon lành. Do đó Sáng tạo thường vấp phải sự chống đối, phản bác, bỉ báng, thậm chí hành hạ, trừng phạt của cả người cai trị lẫn kẻ bị trị. Đức Jésus, sau chừng 15 năm tu học ở ấn Độ và Tây Tạng, trở về Palestine với những chứng ngộ mà ngài đã phải gia giảm liều lượng để hợp khẩu vị của văn hoá quê hương. Dù vậy, ngài vẫn bị "đồng bào thân yêu" phản đối, lăng mạ, đến nỗi, trước khi bị chính "đồng hương đồng khói" đóng đinh câu rút, chính họ chứ không phải tổng trưởng lý người La mã, Ponce Pilate, ông này vô can không phải chỉ vì "đã rửa tay" rồi, ngài phải cám cảnh thốt ra, thực ngàn đời đau xót "Không một nơi nào mà Ngôn Sứ lại bị xua đuổi và miệt thị như ở chính trong gia đình mình và quê hương mình". Như thế tất nhiên, người trí thức, với tư cách chủ thể sáng tạo, cần cái gì để hiện thực hoá cái lực đẩy nội tại trong mình là Sáng tạo nếu không phải là Tự Do ? Các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp đã từng và dường như vẫn còn dấy lên cả một phong trào đả kích. Đả kích, trong nhiều trường hợp là do nịnh bợ lập trường quan phương, nhưng cũng không thiếu những người đả kích vì thành thật cho Nguyễn Huy Thiệp là immoral. Như thế, Nguyễn Huy Thiệp đúng là một trí thức.
Cứ tạm chấp nhận đi, cách quan niệm trên về Trí Thức, chúng ta sẽ nhận định thế nào về :
Trí Thức Việt nam "Cũ" và "Mới"
"Cũ" được qui định đơn giản là trước 1945, "Mới rất Cũ" sau 1954 ở miền Bắc, và "Mới" sau ... , khó quá tìm ra được một cái date ít nhiều hợp lý, hay cứ lấy "đổi mới, mở cửa" làm mốc thời gian vậy.
Phần rất lớn các nhà khoa bảng trước 1945, được đào tạo dưới mái trường của nền giáo dục Pháp, đôi khi gọi là "thực dân", đều có khối lượng tri thức rất đáng kính nể. Trong cuộc đời, nói chung họ là những con người lương thiện, đứng đắn rất đáng tôn trọng. Về "việc nước, việc dân", thông thường họ có lòng yêu nước thương dân thực sự. Ba ưu điểm ấy, trong nhiều thập kỷ đầy xáo động của nửa sau TK 20, lại bộc lộ cái mặt kia của chúng, tức là những nhược điểm dễ thấy đến mức khó gọi họ là trí thức, dĩ nhiên theo những cái tạm lấy làm tiêu chuẩn như trên đã nói.
Dường như không mấy nhà khoa bảng , được đào tạo thời Pháp thuộc, lại từng triển khai khối lượng tri thức chuyên môn của họ ra ngoài lĩnh vực hành nghề để hướng tới Trí Tuệ, đặc biệt trí tuệ liên quan đến lịch sử, chính trị, xã hội, ... Kết quả nhiều người trong số họ đã nuốt một cách ngon lành một món ăn vốn chỉ có giá trị của một thứ "mì chính lý luận". Sự lương thiện của họ, vì thiếu phẩm chất "trí thức" nên trở thành ngờ nghệch, ngây thơ và luôn luôn tiếp tay cho cái Xấu mà vẫn nhơn nhơn như đang làm việc Thiện. Lòng yêu nước, thương dân, xuất phát từ vốn liếng kiến thức gần như số 0 về chính trị, lịch sử, tâm lý, xã hội, triết học, khoa học, đã trút lên họ cái thực sự là trách nhiệm một phần của những gì đã xẩy ra trên đất nước này, cho dân tộc này.
Về lớp trí thức cũ, tôi không thể, để làm tiêu biểu, không nhắc đến hai tên tuổi đáng trọng về mặt nào "tri thức" và có thể cả mặt tư cách đạo đức. ấy là một giáo sư khoa học và một triết gia. Người thì thành công trên đường hoạn lộ bằng cái giá của, ngu xuẩn chăng ? hèn hạ chăng ? vị kỷ chăng ? khi ông mạt sát "Nhân văn giai phẩm" là "những tên lưu manh đội lốt văn hoá". Còn triết gia nọ, phải nói là tri thức hàng bồ, khảng khái có thừa, nhưng đến chết, một cái chết không một ai ngó mắt nhìn xem, để thương cảm, để nuối tiếc, bởi vì ông đã chết trong ngu tín 100%.
Nói đến "trách nhiệm", thực ra chúng tôi vẫn bị ám ảnh bởi hình tượng kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ, chứ nói cho công bằng, tất cả đều chịu trách nhiệm hết, và "lãnh đủ" là phải thôi. Cũng ít nhiều có liên quan là tình trạng "bị lừa". Theo thiển ý, cũng chẳng có ai lừa ai hết, mỗi người và mọi người trong nhiều thập kỷ qua, đã tự lừa mình bằng chính sự mê muội và ngu dốt của mình. Chúng tôi không lên án ai hết, không khinh thị ai hết, chỉ thấy "như thị", chỉ sống "như thị", nghĩa là không thấy, không sống qua một cái Tri định hình nào mang tính khúc xạ. Dĩ nhiên chúng tôi nghĩ về mình như vậy, còn có đúng làm được như vậy không lại là một chuyện khác.
"Mới rất Cũ": Một số luận điểm được "bao bì" gọn nhẹ theo kiểu "giáo lý đại cương" (catéchisme) của Nhà Thờ La mã. Đối với xã hội lạc hậu từ trên xuống dưới như xã hội Việt nam ta trong TK 20, những luận điểm ấy phải xem là "mới", nhưng dù chiếu cố cái tạm coi là "mới" ấy thì cách chuyển tải ở mọi nơi, vào mọi lúc đã ăn sâu vào xương tuỷ của tất cả một nếp tư duy rất cũ, vì luôn luôn chạy trên những kênh cố định, sáo mòn đến mức Boris Pasternak phải kêu Trời: "làm sao mà hết tháng này qua năm nọ, họ cứ nhắc hoài mà không thấy chán". Kết quả là, phải nói thẳng, dù dễ dãi đến đâu thì mấy chục năm qua, nếu muốn dùng từ "trí thức" thì không biết phải chất bao nhiêu tầng ngoặc kép quanh nó, và đặt bao nhiêu dấu chấm than sau nó cho không biết bao nhiêu nhà trí thức.
Thế nhưng vẫn có đó, những đứa con hoang !
Tại sao nhỉ ?
Lại phải trở về với Trí. Ai cũng có Trí hết, bất kể già, trẻ, nam nữ. Cũng như Giác, như Tri, như Thức, mỗi người mỗi cách, không ai thực sự giống nhau trăm phần trăm hết; Trí cũng vậy, nó ló hiện thế này, thế kia là thay đổi từ cá nhân này sang cá nhân kia. Thế là ngẫu nhiên tạm kể hai gương mặt, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Thanh Giang.
"Ngẫu nhiên" nghĩa là vô định, là ... vô vọng ? Chúng tôi không quen thân với họ để ngưỡng mộ họ về mặt đạo đức, gia dĩ cái đó cũng chẳng quan trọng gì lắm. Nhưng khách quan, tự thân việc làm của họ có tính đạo đức vì nó có tác dụng tốt cho mọi người. Họ phải như vậy thôi, vì cái Nghiệp của họ là thế. Nơi họ, cái Biệt Nghiệp của họ là sự thôi thúc lộ thể của khuynh hướng trí tuệ. Nếu sự lộ thể ấy là "đạo đức", là tích cực, là tốt, thì làm gì đây để biệt nghiệp ấy loang ra thành cái ít nhiều gọi được là Cộng Nghiệp. Một câu hỏi rất chi là phức tạp và khó đáp, mong rằng có ngày hầu chuyện bạn trong một thiên "không đàm khoát luận" dài hơi, bây giờ và tại đây chỉ nêu lên một giải pháp nhỏ mà may mắn thay đã hiện hình rồi trong xã hội ta có tính "phi nhị nguyên" tù mù là "nửa khép, nửa mở": giới thiệu càng nhiều càng hay những tác phẩm "lạ" của thế giới bên ngoài, thí dụ như những bản dịch gần đây của một trí thức đích thực khác theo chuẩn mực trên, tức là của Nguyễn Kiên Giang. Điều này, trước khi nói đến điều kiện tiên quyết là tự do báo chí là cần thiết để, chẳng những cổ võ "sinh sản vô tính" của trí thức, mà còn tránh một vài điều không đáng có của một số trí thức cũng đích thực nhưng vẫn còn, như món xúc xích hun khói thế nào ấy, tôi muốn nói đến ...
Sao vẫn còn ...
Hầu chuyện người bạn ngẫu nhiên, sau một lần gập ngẫu nhiên, lạ lùng thay, tôi ngẫu nhiên nhặt được mấy trang báo cũ, và thế là tạm gọi có một vài căn cứ để ...
Dương Thu Hương là một gương mặt rất cá tính, và nếu Hương là nữ thì với tôi điều đó chỉ xác quyết một niềm tin của tôi là chúng ta đang bước vào kỷ nguyên mẫu hệ. Cũng tốt thôi, phụ hệ chỉ đặt lý trí và những hậu quả đầy tính tai ương và ngu xuẩn của nó. Dù khoa chân múa tay rất hung hăng, có người ác khẩu còn gọi là đanh đá, là lăng loàn nữa, Hương vẫn là một sản phẩm của chủ nghĩa ngu dân. Tạm dẫn, "Chiến tranh đã cướp đi những con người cao quý nhất, dũng cảm nhât, thành thực nhất ... Lòng quả cảm (của những nhà văn Việt nam ghi tên tình nguyện lên đường sang Nam Tư của Milosevic để viết bài chống OTAN) đáng tuyên dương biết bao, ...Một dân tộc dũng cảm biết bao trong chiến tranh và hèn mọn biết bao trong cuộc sống thời bình ... Người Việt bị buộc làm lính đánh thuê cho hai hệ thống, ..." dù đôi khi Hương cũng muốn minh hoạ lại bằng một sắc mầu của sự mỉa mai: "Nhưng thôi, chẳng nên bàn đến các nhà văn xứ này, thời nào đám ngựa cũng bị bịt mắt và chỉ chạy theo con đường của chủ ... Đối với tôi, chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả. Nơi thiết chế dân chủ chưa được dựng lên, nơi con người chưa có đủ ý thức về quyền làm người, bất cứ người lính can đảm nào cũng là một công dân ngu đần và hèn nhát". Chính những điểm nói thêm ấy lại càng cho phép tôi "kiên trì" lập trường trên về Hương. Thì ra người phụ nữ nổi loạn ấy, và cũng khá thông minh nữa, vẫn chưa hề ra khỏi dứt khoát những tri thức rất dớ dẩn đã chất vào đầu từ một thuở nào.
Cùng một dòng với Dương Thu Hương là Phạm Thị Hoài mà, trong chừng mực của thói dị ứng với xã hội Việt nam đương đại, còn "dữ dội" hơn, dữ dội tới mức Phạm Thị Hoài phải vĩnh biệt xã hội đó và giới "trí thức trẻ" của nó bằng một phép xã giao chưa từng có. Ây vậy mà cũng vẫn một cái gì đó vừa hời hợt vừa ngô nghê trong một số nhận định.
Dù vậy phải nói rằng, riêng tôi, tôi vẫn sẵn sàng, không đến nỗi tung hô "muôn năm", nhưng hoan hô nhiệt liệt nếu một ngày đẹp trời nào đó tôi có được cái hạnh phúc chen chúc trong đám người diễu hành dưới lễ đài, ở đó họ đang đứng với tư cách kẻ cai trị đám người chỉ anh hùng ở cái "mày râu hàm én", tức là "militant de barbe".
Và còn nữa, cái "thiêng liêng", cái "trong sáng" của một thế hệ "nỗi buồn- Baỏ Ninh" hay "dấu chân người lính –Nguyễn Minh Châu", hay, khá chua chát và cũng khá nhiều bít thông tin (instructif) là Bùi Minh Quốc. Sau bức tường Berlin, Quốc vẫn nói đến nào là "dân tộc ta vùng lên", nào là "lịch sử éo le và khắc nghiệt đã buộc (?!) dân tộc ta không còn cách lựa chọn nào khác (!!!), nào là "Biết bao máu Việt Nam đã tự nguyện (!!!) hiến dâng ...", bất kể tư liệu chất đống về lịch sử quá đủ để đặt những câu hỏi dớ dẩn theo kiểu Hương như vậy, bất kể một Nguyễn Thanh Giang từ lâu trước đó đã nói rất rõ ràng, rất rành mạch về những cái có liên quan.
Và bất kể một Hà Sỹ Phu của chí ít lá thư gần đây anh gửi cho Nguyễn Gia Kiểng. Về Hà Sỹ Phu, qua một số trước tác của anh mà tôi đã được đọc, tôi thấy anh nhuần nhuyễn tư tưởng dân chủ và thành thực muốn đưa ra phép đối trị tối ưu cho những nhức nhối Việt nam, tuy nhiên, theo cách nghĩ chủ quan, tôi cho rằng bức thư nói trên là bài viết hay nhất của anh, nó chứng tỏ anh đã tẩy sạch mùi khói của nền văn hoá ưu việt về mặt cực quyền và toàn trị đã dầy công nhiều năm hun ướp anh và những người còn lại. Nó cũng thoát ra, không chút dấu vết tự trang điểm, nỗi đau lòng mà không thể khác được trước hiện trạng của đất nước, của dân tộc, đau lòng càng nhức nhối trên sự phản tỉnh về "nhân dân ta anh hùng, trung nghĩa, v.v…". Anh quá ngán cái nhiều nhà trí thức bất đồng chính kiến vẫn xem là "cơ sở chân lý" cho hoạt động yêu nước và tín điều chính trị của họ, tức là "Đám bùn nhão ..., trong đó kẻ có dũng (như mafia, đua xe máy, đâm thuê giết mướn, ...) thì ngu dốt, kẻ có trí tuệ (như giáo sư, tiến sĩ, nhà văn, ... mà theo chủ nghĩa ước lệ phải xem là có trí tuệ) thì hèn, kẻ có trí có dũng (tôi tin là có những người như thế đấy, nhưng nghĩ mãi vẫn chưa tìm ra được "như") thì láu cá, vị kỷ, bất nhân". Một người Nga đã giải thích hiện tượng này rất hay, vì nó giải toả được một khúc mắc: "Chúng ta sinh ra trong lòng một xã hội ung thối (socíeté pourrie), và khi lớn lên, chúng ta đã ung thối cùng với nó". Còn hay hơn nữa, vì "xưa" hơn nhiều, lại là một trí thức thực sự, dù không đạt tiêu chuẩn "nomenklatura", và vào cái thời đơn giản trong cấu trúc tâm lý mà một số các vị "cựu trào"vẫn còn nhắc đến như một hoài niệm, một nostalgie, tức là cụ Tản Đà: "Dân hai nhăm triệu không người lớn, Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con". "không người lớn ... vẫn trẻ con" bao gồm trước hết những nhà trí thức đương đại !
Hoặc một Nguyễn Duy, tác giả một bài thơ dài mà tôi cho là rất đặc sắc, ít nữa đặc sắc so với đường mòn tri thức của người đương thời. ít lâu sau, nghe nói anh từ bỏ phong cách tư duy đó, có lẽ vì anh nghĩ nó không "hợp", nó "lạc hậu" với thời đại xã hội tiêu thụ mà chắc anh đã bị thu hút không cưỡng nổi như rất nhiều văn nghệ sĩ trẻ hiện nay. Boris Pasternak từng hối hận vì mình đã dành quá nhiều thời gian và công sức cho cái "cao siêu và trừu tượng" là thi ca, thay vì cho cái cụ thể và dễ với là tiểu thuyết. Solienitzsin, mạnh mẽ hơn, lên án cả Maxim Gorky đã góp giọng vào bản hợp xướng cho kênh đào của những khổ tù, cả A. Bounine và nhiều trí thức Nga lưu vong ham chơi vơi trên từng mây của "nghệ thuật thuần tuý" vì siêu thực. Còn Nguyễn Duy và những văn nghệ sĩ "trẻ" đương đại của Việt nam ? Hoặc có lẽ người Nga đó đã nói rất đúng chăng ?
Tôi vẫn trân trọng họ là những trí thức mới, nhưng rõ ràng là nơi họ còn thiếu cái đúng ra lại không mấy quan trọng để đặc trưng hoá phẩm chất gọi là "trí thức", tức là Tri Thức và Tư Duy Lôgic thể hiện mạnh nhất ở tính Nhất Quán Lôgic (logical consistency) hơn nhiều lần ở tính hợp qui lôgic (logical validity). Tôi không sùng bái cả Tri Thức, cả Lôgic, trái lại tôi ngưỡng mộ nơi họ phẩm chất nghệ sĩ là cái gần với chân lý hơn hai món trên nhiều. Đáng tiếc là một số khá lớn trong họ đã bỏ sở trường của họ, tạm nói theo A. Gide "Nhiệm vụ của văn nghệ sĩ là gieo dắc chất men bất phục tùng và phản kháng", để lôi sở đoản là những "yêu nước", "vì nhân dân", "cha ông ta", "bản sắc dân tộc", ... ra phang thiên hạ, từ đó phải nói ... , nói gì đây nhỉ để khỏi mất "đoàn kết" !
Tôi vẫn trân trọng họ là những trí thức mới, nhưng rõ ràng là nơi họ còn thiếu cái có lẽ là đặc trưng cao nhất cho phẩm chất gọi là "trí thức": Sự gắn bó với lực đẩy nội tại lớn hơn nhiều lần lực sinh học "tự nhiên" của thói ham sống. Tôi không vọng ngoại, nhưng phải nói thẳng rằng có ai trong số trí thức mới đó có thể sánh với, chẳng hạn, nhà thơ trẻ Trung Quốc Zha Haisheng, còn tên là Haizi khát ngưỡng thế giới của Tự do, Đức tin và cái Đẹp thay vì đôla, máu và cột treo cổ, chung cục tuyệt vọng trước đất nước của không tưởng biến thành bạo quyền, anh đã lao vào xe lửa để tự tử khi mới 25 tuổi. Nếu chúng ta vẫn "kiên trì" cho đó là dại, chí ít là tiêu cực thì đúng là còn lâu chúng ta mới có được một tầng lớp đáng gọi là intelligentsia.
Tôi rất khâm phục Pascal, "Trái Tim có những lý do mà Lý Trí không thể hiểu nổi", hoặc Carlos Castaneda "Hãy nhìn mọi con đường thật chăm chú và suy nghĩ chín chắn ... Rồi hãy đặt cho minh, cho riêng mình thôi, một câu hỏi ... Con đường này có một trái tim không ? Nếu có thì nó là một con đường tốt, nếu không thì nó vô dụng". Cái mắc mớ cỡ bự là Trái Tim, ai mà chẳng nói được, vấn đề là làm thế nào biết nó thực là Trái Tim ?
Dù khó xử đến đâu đi nữa thì vẫn cứ phải khẳng định rằng, Trí Thức, đó là tri thức, đó là tư duy lôgic, và cao hơn tất cả, đó là Trái Tim, thôi thì cứ tạm hiểu là Khuynh Hướng Trí Tuệ khá thuần khiết vì không thiên trọng dục lạc sinh học và xã hội. Cứ tạm thoả thuận với nhau thế thôi thì cũng thống nhất được với nhau rằng cả N.H.Thiệp, cả H.S.Phu, cả N.T Giang, cả P.T.Hoài, cả B.M.Quốc và nhiều nữa, những thế hệ mới, dù đã chớm cũ rồi, họ đều là những trí thức hơn thế hệ cha anh họ. Và đó là ý nghĩa lịch sử của họ.
Hanoi 24/5/2002
Tinh Tiến
90 Ngõ 208 Đ - Đội Cấn
----- O -----
Ban biên tập: Ngay từ những năm 2000-2001, trên một số trang web của người Việt ở Hải ngoại đã xuất hiện những bài viết của tác giả Phương Nam. Do tất cả những trang web đó đều bị nhà nước ViệtNam chặn lại, nên nhiều người ở trong nước không có điều kiện tiếp cận các bài viết của anh. Chúng tôi đã xin phép tác giả đăng lại một trong những bài tiểu luận mà anh tâm huyết, hầu giúp độc giả trong nước làm quen với một cây bút luôn thiết tha với sự nghiệp dân chủ hoá đất nước.
Anh Phương Nam hiện đang sinh sống tại Sài Gòn.
PHƯƠNG NAM - AUSTRALIA
Hồi nhỏ tôi rất thích câu chuyện cổ tích Tấm Cám: cô Tấm xinh đẹp, thảo hiền nhưng luôn bị mẹ con nhà Cám ghen ghét tìm cách hãm hại. Thế rồi Tấm bị chết đi, hóa thành chim vàng anh, thành cây xoan đào, thành cái khung cửi, và cuối cùng Tấm từ quả thị chui ra giúp bà cụ phúc hậu kia mọi việc nhà. Một ngày nọ, nhân dừng chân ở quán nước ven đường, tình cờ nhà vua trông thấy những miếng trầu têm cánh phượng rất khéo, giống hệt như của vợ mình têm ngày nào. Vua bèn ngỏ ý với bà cụ muốn gặp người têm trầu, Tấm bước ra, vua vô cùng sửng sốt và mừng rỡ được gặp lại vợ mình, lại còn xinh đẹp hơn xưa. Vua cảm ơn bà cụ và xin được rước Tấm về cung. Từ đó hai người sống bên nhau hạnh phúc đến trọn đời - người ở hiền cuối cùng rồi cũng gặp lành. Còn mẹ con nhà Cám - những kẻ gieo gió đã gặt bão, tội ác đã bị trừng phạt đích đáng. Câu chuyện kết thúc thật "có hậu".
Nhưng khi lớn lên, xem xét lại câu chuyện dưới một cách nhìn khác, tôi mới giật mình nhận ra rằng : bên cạnh tính thảo hiền thì cô Tấm cũng có tính ác độc, vì nếu hoàn toàn hiền cô không thể khuyên Cám: "nếu muốn da trắng em chỉ việc đào một cái hố thật sâu rồi ngồi xuống đó.", Cám tưởng thật nghe lời, đoạn Tấm sai người đem nước sôi dội xuống làm Cám chết ngay tức khắc. (có người còn kể là tự tay Tấm dội !) Vẫn chưa hết: sau đó Tấm lấy xác Cám rồi làm mắm gửi về cho dì ghẻ! (trong những sách xuất bản gần đây, chi tiết này đã được bỏ đi), mẹ Cám không biết vừa ăn vừa khen ngon. Ðến khi ăn hết nhìn xuống đáy hũ thấy đầu lâu con gái mình, mụ sợ quá rú lên một tiếng rồi ngã vật ra đất chết. Thế là chỉ vì quá căm phẫn trước những việc làm thất đức của mẹ con nhà Cám mà các cụ ta ngày xưa đã vô tình đẩy cô Tấm vốn xinh đẹp, thảo hiền là vậy vào vòng tội lỗi. Ðã có vua là phải có pháp đình rồi thì tại sao không làm theo phéùp nước? Nếu ai cũng đều làm như vậy thì xã hội sẽ đi về đâu?
Tương tự trong truyền thuyết Chuyện Ðẻ Trăm Trứng ta cũng thấy: tại sao ông Lạc Long Quân lại bàn với bà Âu Cơ chia đàn con của họ ra thành hai nhóm 50/50 để người dẫn lên núi, người dẫn xuống biển? Sao ông bà không cùng nhau ở lại mà làm ăn sinh sống và nuôi dạy đàn con của mình trưởng thành? vì ông bà đã… ly dị đâu! Sau này " đứa nào" muốn đi mở mang bờ cõi thì tùy "chúng nó". Mới có … 100 mặt con thì làm gì mà đã sợ thiếu đất canh tác ! v.v… Cái lý do ông đưa ra rằng bà thuộc giống Tiên, ông thuộc giống Rồng nên không thể ăn ở với nhau lâu được và nay thì ông phải xuống thủy cung để ở với mẹ! tôi cho rằng không có sức thuyết phục, vì điều đó ông đã biết từ trước khi cưới rồi cơ mà! (thà rằng ông cứ nói là 2 người tính tình không hợp nhau thì còn khả dỹ!).
Thế là cũng chỉ vì muốn chứng minh rằng dân tộc Việt Nam ta là cùng một mẹ đẻ ra, là "đồng bào" của nhau mà các cụ ta ngày xưa lại nỡ chia rẽ một gia đình đang sống với nhau hạnh phúc là vậy. Hơn nữa giá như các cụ kể thêm là có một cặp "Long Quân - Âu Cơ" khác cùng thời, cũng đẻ ra 100 cô gái thì vấn đề sẽ… đồng bộ hơn! Quả thật tôi cứ thắc mắc mãi là các vua Hùng - những người con trai của ông, bà khi lớn lên đã kén vợ ở đâu! Không, tôi hoàn toàn không có ý gì báng bổ đến tổ tiên ta. Thật tình tôi cũng rất thích câu chuyện này, tuy nó chỉ là truyền thuyết nhưng nó như một bức thông điệp của ông cha ta từ ngàn xưa, muốn nhắn gửi tới Ðàn Chim Việt hôm nay: dù ai đang ở đâu, đi đâu và làm gì thì chúng ta đều là anh em cùng một giống nòi. Vì vậy phải luôn luôn biết đoàn kết, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau.
Từ hai câu chuyện trên có thể giúp ta những gợi ý sau:
a - Trong cùng một vấn đề thường có tính hai mặt tương phản nhau. Nếu chỉ thấy được mặt này mà không thấy được mặt kia hoặc ngược lại thì cách giải quyết nó sẽ không đồng bộ. Có thể lúc này ta thấy nó ổn nhưng khi khác, hoàn cảnh cũng đã khác đi lại thấy nó rất không ổn, có khi còn sai hoàn toàn. Lúc ấy phải dứt khoát đoạn tuyệt với nó để cái mới ra đời, thay thế và phát triển theo quy luật.
b - Cuộc sống là rất đa dạng và phong phú, nên trong cùng một vấn đề mỗi người khác nhau thường có cách nhìn nhận và giải quyết nó cũng khác nhau. Nếu đấy là những vấn đề riêng thì quyết định cuối cùng thuộc về những cá nhân đó. Nhưng nếu đấy là những vấn đề chung, liên quan đến nhiều người thì phải tuân theo nguyên tắc: thiểu số phục tùng đa số, tức số ít phải chấp thuận quyết định của số nhiều. Nói như vậy không có nghĩa là số còn lại bị bỏ rơi, một quyết định tốt nhất phải là sự tổng hợp cao nhất mọi ý kiến, dù là nhỏ. Một điểm quan trọng nữa là những người liên quan phải có được những thông tin trung thực và đầy đủ trước khi họ ra quyết định cuối cùng.
c - Cuộc sống càng hiện đại thì yêu cầu xem xét lại những vấn đề của ngày hôm qua xem chúng có còn phù hợp với hôm nay hay không, lại càng phải được đặt ra một cách cấp bách và nghiêm túc. Từ đó sẽ tìm ra những phương cách giải quyết chúng sao cho thích hợp với hiện tại.
Từ những gợi ý trên trong bài viết này tôi xin được trình bày 5 vấn đề sau đây:
1 - Hệ thống xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ 20 vừa qua (1917 - 1991).
2 - Hoàn cảnh mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn con đường đi cho dân tộc Việt Nam.
3 - Ðường lối "xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" ở Việt Nam hiện nay.
4 - Nền dân chủ Việt Nam và một ý kiến đề nghị.
5 - Vấn đề đoàn kết dân tộc - những niềm tin tưởng.
Tôi hiểu rằng đây là những vấn đề rất rộng và phức tạp, đã có nhiều người viết và nói về nó. Nhưng điều đó chẳng những không ngăn cản tôi nói lên ý kiến riêng của mình, mà ngược lại, nó là những nguồn tư liệu phong phú, nguồn động viên tinh thần rất lớn đối với tôi. Với hy vọng rằng trong số những điều viết ra, nếu có điều nào đó có ích cho đất nước mình, thì đó chính là niềm khích lệ lớn đối với tôi rồi.
Viết về quê hương Việt Nam nhà thơ Nguyễn Ðình Thi đã có bài sau đây:
Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
Quê hương biết mấy thân yêu
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau
Mặt người vất vả in sâu
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn
Ðất nghèo nuôi những anh hùng
Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên
Ðạp quân thù xuống đất đen
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.
Việt Nam đất nắng chan hòa
Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh
Mắt đen cô gái long lanh
Yêu ai yêu trọn tấm tình thủy chung
Ðất trăm nghề của trăm vùng
Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem
Tay người như có phép tiên
Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ
Nước bâng khuâng những bến đò
Ðêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi
Ðói nghèo nên phải chia ly
Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường
Ta đi ta nhớ núi rừng
Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ
Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô
Bát cơm rau muống quả cà giòn tan…
Có lẽ không người Việt Nam nào, khi đọc bài thơ này lại không thấy được một phần máu thịt của mình ở trong đó. Cái mảnh đất hình chữ S nằm bên bờ Thái Bình Dương ấy là Tổ Quốc chung của mọi người con đất Việt, dù họ đang sống ở trong hay ngoài nước . Tôi không có khả năng làm thơ để viết về đất nước mình, nhưng cũng như bao người Việt Nam khác, tôi yêu đất nước tôi và đó chính là động cơ duy nhất để tôi viết bài này, trong đó có cả câu "súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa" cũng cần phải được nhìn nhận lại. Và bây giờ, xin mời quý vị và các bạn hãy cùng tôi lần lượt đi qua 5 phần trên.
- Cuộc cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 đã diễn ra và giành được thắng lợi bằng con đường bạo lực, lật đổ được chế độ Nga hoàng và lập nên một nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới. Tức nhà nước Liên Xô sau này, do Lê Nin đứng đầu. (V.I Lenine 1870 - 1924).
- Năm 1945 trên đường tiến vào Berlin, hồng quân Liên Xô đã giúp hàng loạt nước Ðông Âu thoát khỏi ách phát xít. Sau đó các nước này ra nhập vào hệ thống xã hội chủ nghĩa gọi tắt là phe XHCN, do Liên Xô đứng đầu. Sau có thêm bốn nước nữa là: Trung Quốc (1949), Cộng hòa DCND Triều Tiên (Bắc Hàn - 1953), Cu Ba (1959) và Việt Nam (miền Bắc 1954, cả nước 1975). Ðưa tổng số các nước trong toàn hệ thống lên 13 nước. Hệ thống ấy tồn tại đến năm 1991 thì tan rã, do sự sụp đổ của các nước Ðông Âu và Liên Xô, đến nay chỉ còn lại bốn nước sau nói trên.
Có 3 đặc điểm lớn trong hệ thống này là:
a) Hầu hết đều có điểm xuất phát thấp: khá nhất là các nước Ðông Âu, sau đó là Liên Xô và thấp nhất là bốn nước còn lại. (cụ thể là: nền công nghiệp chưa phát triển,trình độ dân trí và dân chủ còn thấp, người dân còn nghèo, ... đặc biệt hai nước Trung Quốc và Việt Nam còn bị ảnh hưởng rất nặng nề bởi thuyết Khổng, Mạnh và người dân vẫn còn rất tin vào số mệnh.)
b) Ða số đều ra đời sau các cuộc chiến tranh hoặc nội chiến, mà ở đó các ÐCS lên nắm chính quyền.
c) Vai trò quyết định của Liên Xô: nếu không có Liên Xô thì chắc chắn không thể có hệ thống XHCN trong thế kỷ 20 vừa qua.
Như chúng ta đã biết: nhân tố quyết định cho thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga là vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Nga, ÐCS Nga lại bắt nguồn từ phong trào cộng sản quốc tế. Nó xuất hiện từ nửa sau thế kỷ 19 ở Tây Âu bởi chủ nghĩa Mác, còn được gọi là Chủ nghĩa cộng sản (Karl Marx 1818 - 1883). Chủ nghĩa Mác lại được hình thành bởi học thuyết của ông. Vì vậy muốn đi tìm nguyên nhân hình thành cũng như tan rã của phong trào cộng sản quốc tế nói chung, cũng như của hệ thống XHCN nói riêng trong thế kỷ 20 vừa qua, chính là việc đi tìm cơ sở hình thành nên học thuyết Mác
Có thể tóm tắt phần cốt lõi đã hình thành nên học thuyết ấy như sau : Mác cho rằng xã hội tư bản sở dĩ có bóc lôït là do có sự tư hữu về tư liệu sản xuất. Hễ tư hữu càng nhiều thì bất công càng lắm, khi mâu thuẫn do nỗi bất công ấy gây ra lên tới đỉnh cao, thì chỉ có cách giải quyết duy nhất là thủ tiêu nguyên nhân sinh ra nó. Tức là phải "xóa tư hữu" thông qua một cuộc Cách mạng vô sản, bằng con đường bạo lực . Trong Tuyên Ngôn Ðảng Cộng Sản, Mác viết chung với Ăng-Ghen (F.Engels 1820 -1895) năm 1848 có đoạn : "Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất là: xóa bỏ chế độ tư hữu".
Và ông tiếp: lực lượng nòng cốt của cuộc cách mạng vô sản là giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản (ÐCS). Khi cách mạng thành công rồi thì một nhà nước vô sản sẽ ra đời để xây dựng một chế độ mới, dựa trên cơ sở "công hữu". Ðây là chế độ công bằng và dân chủ nhất cho tất cả mọi người, chưa hề có trong lịch sử loài người. Vì nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với mọi hình thức bóc lột.
Cuối cùng Mác kêu gọi: "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!" và một khi cách mạng vô sản giành được toàn thắng thì thế giới sẽ đại đồng. Mùa xuân của nhân loại sẽ đến ngay trên trái đất này chứ chẳng phải đi tìm kiếm ở đâu xa. Lúc ấy vai trò lãnh đạo của các ÐCS, vai trò quản lý của các nhà nước vô sản sẽ không còn cần thiết nữa, nó sẽ tự triệt tiêu .(!)
Quả thật nếu được như vậy thì ai không muốn, chẳng thế mà trong suốt một thế kỷ rưỡi qua đã có biết bao nhiêu người say mê nó. Người vô sản đã đành, rất nhiều người hữu sản cũng quyết dấn thân, bởi vì họ nghĩ tới muôn đời con cháu mai sau. Thế nhưng có điều là ngay ở điểm xuất phát của học thuyết này : "Sở dỹ có bóc lột là do có sự tư hữu" đã có sự bất ổn lớn. Vì để chứng minh nó, Mác đã khảo sát quá trình mà ông gọi là "Tái sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa". Ở đó ông chia nó thành hai quá trình nhỏ hơn là sản xuất và lưu thông hàng hóa, và ông nhận xét :
Trong lưu thông không tạo ra giá trị cho hàng hóa, dù là trao đổi ngang giá hay không ngang giá. Chỉ có trong quá trình sản xuất mới tạo ra được giá trị cho hàng hóa, và cũng chỉ có duy nhất yếu tố người công nhân mới có khả năng tạo được giá trị mới, lớn hơn cái giá trị mà nhà tư bản đã thuê anh ta dưới hình thức tiền lương. Giá trị chênh lệch ấy gọi là giá trị thặng dư, mà người công nhân đã bị nhà tư bản bóc lột toàn bộ.
Giả sử mọi lập luận của Mác dẫn tới nhận xét trên là đúng hết, thì điều quan trọng sau đây cũng đủ làm cho nó sai, nguyên nhân là trước đó ông đã tự đặt ra những giới hạn để khảo sát quá trình này. Ðó là :
- Về không gian: chỉ ở một vài nước Tây Âu phát triển nhất lúc bấy giờ như Anh,Pháp, Ðức, Ý,...
- Về đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu: chủ yếu quan tâm đến mối quan hệ giữa nhà tư bản và người công nhân trong ngành công nghiệp cơ khí.
- Về thời gian nghiên cứu : chủ yếu là từ thập niên 40 đến 60 của thế kỷ 19.
Khi nhân loại chỉ mới biết đến cái cỗ máy chạy bằng hơi nước được phát minh ra đầu tiên năm 1712. Nó cũng được coi là thời điểm đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ từ nền văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp. Mãi tới năm 1876, trước khi Mác mất 7 năm (1883) thì động cơ đốt trong mới xuất hiện, khi mà Tuyên Ngôn Ðảng Cộng Sản đã ra đời, Quốc Tế Vô Sản I do Mác và các đồng chí của ông cũng đã được thành lập tại London - Anh (1864), và năm 1892 - 9 năm sau khi Mác mất, thì công ty cung cấp điện đầu tiên trên thế giới (General Electric) mới được ra đời tại Mỹ.
- Không có các yếu tố xuất nhập khẩu như: XNK hàng hóa, lao động, công nghệ, tư bản (vốn), ... mà thời Mác cũng đã có. (ông đưa ra rất nhiều bảng biểu về nó nhưng chỉ để minh họa, chứ không đưa nó vào khảo sát như là một yếu tố của quá trình này.) - V.V…
Những vùng đất khác trên thế giới, những ngành khác trong nền kinh tế, những thành phần khác trong xã hội như : các viên chức chính phủ (kể cả quân đội và cảnh sát), các nhà hoạt động chính trị, tư tưởng, tôn giáo, văn hóa, khoa học, văn nghệ sỹ, chủ đất, tiểu chủ, tiểu nông, bần cố nông, v.v ... được ông gọi chung là "các giai cấp trung gian", tuy có được ông nhắc đến nhưng rất không đầy đủ, thậm chí có những yếu tố gần như bỏ trống. Chẳng hạn như vùng đất châu Á ông rất xa lạ.
Với một bài toán mà các dữ kiện vừøa thiếu hoặc nếu có lại bị giới hạn tới mức ấy, thì ngay cả vào thời Mác nó đã cho kết quả khác đi rồi. Và một khi kết quả khác đi thì cách giải quyết vấn đề cũng phải khác đi, như vậy mới là hợp lý. Hơn nữa, cứ giả sử nó đúng ở Tây Âu nhưng chắc gì nó đã đúng ở Ðông Âu, Liên Xô, Châu Á, Phi, Mỹ, Úc ?… (ta giả sử thôi, vì trong thực tế là không có một nước XHCN nào ở Tây Âu cả). Ðúng trong ngành công nghiệp cơ khí, nhưng còn các ngành khác, với các giai tầng khác trong xã hội thì sao? Những mâu thuẫn giải quyết thế nào? Ðúng trong nền kinh tế đóng, nhưng chắc gì đã đúng trong nền kinh tế mở, có xuất nhập khẩu? v.v…
Rất tiếc là từ kết quả trên (A), còn được gọi là lý luận về giá trị thặng dư, Mác đã dùng nó làm cơ sở ban đầu để phát minh ra hàng loạt các kết quả khác sau đó (B). Rồi cuối cùng ông đã thừa thắng đẩy vấn đề tới tận "mùa xuân của nhân loại" như chúng ta đã biết. Nhưng có A thì mới có B, mà A đã sai rồi thì B làm sao đúng được? Chưa kể là trong những cái B ấy lại có những điểm vô lý của riêng chúng nữa:
Ví dụ, Mác cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực phát triển trong xã hội có giai cấp, (còn được gọi là lý luận về đấu tranh giai cấp). Nhưng cũng chính ông lại cho rằng: trong xã hội cộng sản nguyên thủy còn hoang sơ nên chưa có giai cấp, và trong xã hội Cộng sản chủ nghĩa tương lai thì không còn sự phân biệt giai cấp nữa. Vậy thì chúng lấy đâu ra động lực để phát triển? Ông cho rằng trong tương lai con người sẽ có ý thức xã hội rất cao, nó sẽ chiến thắng con người cá nhân, và đó chính là động lực cho sự phát triển xã hội. Nhưng liệu điều đó có đạt được hay không ? Tôi xin được trở lại vấn đề này ở những phần dưới. Rõ ràng Mác đã đẩy sự đấu tranh giai cấp lên ngôi đầu và ấn sự thi đua trí tuệ của con người xuống dưới một cách rất chủ quan. Chính sai lầm chết người này của ông đã gây ra biết bao đau thương, tang tóc cho nhân loại ở thế kỷ sau.
Nói tóm lại từ một bài toán nhỏ, lại cho kết quả sai, Mác đã dùng nó làm cơ sở để xây dựng nên cả một học thuyết được cho là khoa học, nhằm giải quyết một bài toán xã hội cực lớn. Chẳng những cho một nước mà cho toàn thế giới, chẳng những cho một giai đoạn mà cho mãi mãi về sau, v.v ... Nếu chỉ xét riêng về mặt phương pháp luận không thôi, cũng thấy là Mác đã rất sai lầm từ chính tính "khái quát hóa" cao này rồi.
Còn xét về nội dung thì ngày nay chỉ cần một người có trình độ quan sát và nghiên cứu trung bình cũng có khả năng chứng minh được là Mác sai. (dù góc độ tiếp cận và cách nhìn nhận của mỗi người khác nhau là khác nhau.). Ðơn giản là vì: khác với một bài báo chỉ là sự tập hợp những quan điểm của người viết thì nó có thể đúng ở chỗ này, sai ở chỗ kia (trừ của các ngành khoa học tự nhiên). Nhưng một khi đã gọi là học thuyết khoa học rồi, mà những điểm sai của nó lại toàn là những "hòn đá tảng" cả, thì nhất định nó phải là một học thuyết sai. Càng sống ở các nước phát triển, càng có điều kiện để nhận biết nó. Ðiều này giải thích vì sao tất cả các nước có nền kinh tế phát triển, không có nước nào đi vào con đường XHCN, mặc dù họ có phong trào cộng sản sớm nhất. Vì sao bốn nước XHCN còn sót lại đến nay đều là những nước có điểm xuất phát thấp nhất của hệ thống, và vì sao số lượng các nước trong phe chỉ dừng lại ở con số 13. Có chăng là thêm một vài nước nghèo nữa ở châu Phi, Mỹ la tinh, Trung Á, v.v... nhưng tên tuổi cũng thoắt ẩn, thoắt hiện rất khó xác định!
Nói như vậy không có nghĩa là hễ ai chứng minh được Mác sai là thông minh hơn Mác, mà chính là bởi thời đại thông minh đã dạy họ. Theo tôi Mác vẫn xứng đáng là một trong những bộ óc xuất sắc của nhân loại trong 1000 năm qua, như một cuộc bình chọn gần đây đã xác định. Xong cũng như những nhà tư tưởng lớn khác, ông vừa vượt lên trên thời đại của mình, nhưng cũng bị chính thời đại ấy quy định.
Ngay khi Mác còn sống, đã có nhiều người nhận ra những điểm sai trong học thuyết của ông, kể cả Ăng-Ghen người bạn và người đồng chí thân thiết nhất của Mác, mất sau ông 12 năm. Biểu hiện rõ nhất của việc nhận thức lại này là: chỉ 6 năm sau khi Mác mất thì Quốc Tế Vô Sản II đã được thành lập ở Paris - Pháp (1889), với chủ trương mềm hơn : giai cấp vô sản sẽ giành chính quyền bằng con đường đấu tranh nghị trường, bất bạo động. Ðảng xã hội Pháp, tiền thân của ÐCS Pháp sau này đã theo Quốc Tế II. Năm 1919 Lê Nin đã thành lập ra Quốc Tế III và "phục hồi" lại con đường dùng bạo lực để giành chính quyền cho phong trào cộng sản quốc tế.
Từ những trình bày trên ta rút ra kết luận: cơ sở hình thành nên học thuyết của Mác là sai, vì vậy cơ sở hình thành nên hệ thống XHCN trong thế kỷ 20 vừa qua cũng là sai từ gốc. Thời Mác đã sai, thời nay lại càng sai.
Sau chiến tranh thế giới thứ II năm 1945 là thời điểm mở đầu cho cuộc chiến tranh lạnh kéo dài gần nửa thế kỷ (1945 - 1991) giữa hai phe XHCN và TBCN, một phe do Liên Xô, phe còn lại do Mỹ đứng đầu. (thật ra cụm từ "phe Tư bản chủ nghĩa" cũng không hẳn là chính xác, vì "Chủ nghĩa tư bản" thì nhân loại đã có từ ngàn đời nay, chứ không phải mới có từ khi nền văn minh công nghiệp xuất hiện. Nhưng khác với CNCS là có tác giả cụ thể, còn nó thì không. Hay nói đúng hơn, toàn bộ nhân loại từ xưa đến nay đều là "tác giả" của nó. (xem tuyển tập Hà Sỹ Phu - website http://members.aol.com/vietnamgo/hasphu.htm )
Xen kẽ trong thời kỳ trên cũng có những cuộc chiến tranh nóng cục bộ giữa hai phe như : chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam. Nhưng trong 3 năm 1989 - 1991, khi các nước Ðông Âu và Liên Xô tan rã thì giữa hai phe lại không hề có một cuộc chiến tranh nóng nào. Có người cho rằng chính vì những cuộc chạy đua vũ trang, chạy đua không gian,… kéo dài với quy mô lớn đã làm cho nền kinh tế của nhiều nước XHCN, nhất là của Liên Xô bị " hụt hơi" dẫn tới sự sụp đổ. Nhưng theo tôi nếu đã gọi là "cùng chạy đua" rồi thì "hơi" bên nào mà chẳng "hụt"!
Những nguyên nhân thì có nhiều, kể cả sự "hụt hơi" trên, ngoài ra còn là vai trò quan trọng, có khi lại rất tế nhị của những nhân vật lớn lúc ấy như: đức giáo hoàng Giôn-Pôn II(John Paul II), các cựu tổng thống Mỹ R.Ri-Gân (Ronald Reagan), Gioóc-Bút (George Bush), cựu thủ tướng Tây Ðức Hen-mút-Côn (Helmut Kohl), cựu tổng bí thư ÐCS Liên Xô M.Goóc-ba-chốp (Mikhail Gorbachev) * (những dấu * trong bài viết này tôi xin được trở lại kỹ hơn trong những lần tới, khi có điều kiện). Nhưng cái chính vẫn phải là phải đi tìm những yếu kém từ bên trong của hệ thống này.
Theo tôi có ba nguyên nhân lớn sau :
a - Do triệt để sử dụng phương pháp bạo lực đã làm phân hóa sâu sắc và toàn diện trong nội bộ từng nước, và giữa các nước trong toàn hệ thống.
b - Do chủ quan và phiến diện trong cách nhìn nhận về con người, nên Mác đã đưa ra luận điểm: hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng tiên tiến nhất trong xã hội, và Ðảng cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo đất nước.
c - Do không tôn trọng các quy luật khách quan.
Cụ thể là:
a - Do triệt để sử dụng phương pháp bạo lực:
Hầu hết các lãnh tụ cộng sản đều có những phát biểu nhằm quán triệt sâu sắc điều này. Chẳng hạn như :
Với Mác : Bạo lực là bà đỡ của mọi cuộc cách mạng.
Với Ăng-Ghen : Không có vũ khí phê phán nào có thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí .
Với Lênin : Kẻ nào chỉ thừa nhận có đấu tranh giai cấp không thôi, thì kẻ đó vẫn chưa phải là người Mác - xít. Chỉ người nào mở rộng việc thừa nhận đấu tranh giai cấp đến mức thừa nhận chuyên chính vô sản thì mới là người Mác - xít.
Với Mao Trạch Ðông : Quyền lực chính trị nằm ở trên đầu nòng súng. hay: Súng đạn đẻ ra chính quyền. v.v…
Thật ra sai lầm trên lúc đầu là do Mác, nhưng sau đó là do Lê Nin và những người cộng sản nắm quyền tiếp theo đã phạm, khi họ vấp phải những khó khăn trong thực tiễn, không như Mác hình dung ban đầu. Vì vậy nó đã được kéo dài lê thê từ trong chiến tranh sang luôn cả thời kỳ "Xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH" ở tất cả các nước trong phe. Nhìn vào thực tiễn ta thấy rất rõ điều này :
a.1 - Sự phân hóa trong nội bộ từng nước :
Từ năm 1917 đến nay, chỉ tính riêng giai đoạn xây dựng hòa bình thôi cũng đã đầy máu và nước mắt rồi. Ðầu tiên là ở Liên Xô, sau lan ra toàn hệ thống. (xem Báo Cáo Mật Của N.Khrushchev Về Tội Ác Của Stalin - N.Khơ-rút-xốp (1879 - 1953) - Website www.lmvntd.org, mục tài liệu / nhân vật.). Hàng chục, hàng trăm triệu người đã bị bắt bớ, đánh đập, hành hạ,... nhiều người trong số họ đã bị chết do đói, rét, khát, bệnh tật hoặc bị giết vì các tội danh như: phản cách mạng, chống đảng, chống CNXH, chống chính quyền nhân dân,... mà việc quy kết cho nhân dân những tội danh trên là rất tùy tiện và vô tội vạ.
Nếu ai đó đã xem bộ phim "Ðể sống" (To Live) của đạo diễn nổi tiếng Trung Quốc Trương Nghệ Mưu, có nữ diễn viên Củng Lợi đóng sẽ thấy : để tồn tại hay không tồn tại, người dân Trung Quốc đã phải chịu đựng như thế nào trong suốt thời kỳ Mao Trạch Ðông cầm quyền (1949 - 1976). Sau này chính những người dân Trung Quốc đã tự hàn gắn cho nhau những vết thương của quá khứ, chứ không phải là Mao Trạch Ðông và những người lãnh đạo trong ÐCS Trung Quốc đã ủng hộ cuồng tín ông ta, mặc dù chính họ là những người đã gây ra những tội ác đó. Họ cho đến nay vẫn ăn qụyt nhân dân Trung Quốc những món nợ lớn đã vay từ những cuộc "Ðại nhảy vọt", "Ðại cách mạng văn hóa", vụ "Quảng trường Thiên An Môn" năm 1989, v.v...
Ở Việt Nam cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ: các chiến dịch lớn nhỏ như Cải tạo hóa, Tập đoàn hóa, Hợp tác hóa, Quốc hữu hóa, Công tư hợp doanh hóa,... chẳng những đã không đoàn kết hóa được dân tộc, mà chỉ làm cho dân tộc phân hóa hơn. Nếu tính cả yếu tố chiến tranh nữa thì sự phân hóa này còn tăng lên nhiều lần. Nước mắt của nhân dân hết chảy xuôi, rồi lại chảy ngược, nhưng không hề làm cho cái ác dừng tay. Thế là sau bao nhiêu năm chiến tranh máu lửa, nhưng trên đất nước Việt Nam vẫn chưa "hiền như xưa", súng gươm vẫn được giữ lại để dùng vào những công việc khác với chống giặc ngoại xâm. Ðiều này thì bất cứ người Việt Nam nào cũng biết. Nó như những thanh gươm treo lơ lửng trên đầu họ, vô hình đấy nhưng cũng rất hữu hình đấy. Có lẽ nhiều người thuộc trường phái sùng bái bạo lực ở Việt Nam, cứ thắc mắc hoài là tại sao ngày xưa vua Lê Lợi lại hoàn kiếm sớm thế? Thắng quân Minh rồi thì cứ giữ nó lại mà sài cho ... quân mình ! (chắc là hồi ấy ông chưa được học tập và quán triệt Chủ nghĩa Mác - Lê Nin !). Trên đây là sự phân hóa trong nội bộ từng nước, nhưng giữa các nước trong hệ thống cũng có sự phân hóa nghiêm trọng.
a.2 - Sự phân hóa giữa các nước trong hệ thống:
Chỉ một thời gian ngắn sau khi ra nhập vào hệ thống, thì hầu hết các nước Ðông Âu đã muốn thoát ra khỏi sự khống chế của Liên Xô, vì các lý do sau :
- Phần lớn đều có điểm xuất phát trước chiến tranh cao hơn Liên Xô.
- Ðã biết được những tội ác của Stalin đối với nhân dân Liên Xô trước đó, bản thân họï cũng đã từng là nạn nhân.
- Muốn nhận sự viện trợ của Mỹ theo kế hoạch Marshall giúp các nước khôi phục lại nền kinh tế sau chiến tranh.
- Các lý do khác biệt về văn hóa, tôn giáo, sắc tộc, ...
Những sự kiện diễn ra ở Tiệp Khắc năm 1947, Ðông Ðức và Tiệp Khắc năm 1953, Hunggaria và Ba lan năm 1956,... đã chứng minh điều này. Nhưng điển hình nhất là sự kiện "Mùa xuân Praha" diễn ra tại Tiệp Khắc năm 1968 : Hàng trăm nghìn quân cùng hàng ngàn máy bay, xe tăng, đại bác,...thuộc khối quân sự Vác-Sa-Va (Warszawa) do Liên Xô đứng đầu (giai đoạn do L.Brezhnev làm tổng bí thư ), đã tiến vào nước này nhằm "tiễu trừ bọn phản cách mạng,tay sai của đế quốc Mỹ!", sau đó bắt đi nhiều UVTƯ đảng, bộ trưởng giải về Mátxcơva (Moscow). Bản thân tổng bí thư A.Dubcek và thủ tướng Tiệp lúc bấy giờ là Cernik cũng bị triệu sang Mátxcơva. Ðể rồi sau đó một đoàn đại biểu do chủ tịch nước Tiệp là Svoboda dẫn đầu đã bị ép phải ký một văn bản tại Mátxcơva, với hai thỏa thuận quan trọng :
- Ngưng ngay công cuộc cải tổ, mà thực chất là muốn xây dựng một mô hình CNXH nhân bản hơn, nhằm thay thế cho mô hình CNXH kiểu trại lính có từ thời Stalin.
- Chấp nhận một lực lượng quân sự Liên Xô gồm 75,000 quân "tạm" đóng tại đây. Lực lượng này ở lại Tiệp 23 năm, tới tháng 5/1991 trước khi Liên Xô tan rã (12/1991) mới rút về.
Kể từ đó lý tưởng cộng sản hầu như đã mất hẳn trong lòng nhân dân Tiệp Khắc nói chung và những người cộng sản Tiệp chân chính nói riêng, họ coi đất nước họ đã bị quân đội nước ngoài chiếm đóng trái phép. Chính họ - những người cộng sản ấy, đã góp phần rất lớn cùng nhân dân giành được thắng lợi trong "Cuộc cách mạng nhung" vào 10 ngày cuối tháng 11/1989. Những cuộc biểu tình quy tụ nhiều chục ngàn người đã liên tiếp nổ ra tại khắp nơi trên đất Tiệp sau sự kiện trên. Ngay tại quảng trường chính của thủ đô Praha đã có hai sinh viên tự thiêu vào tháng 1 năm 1969, trong lúc đoàn người đang biểu tình. Và sự hy sinh của họ đã không uổng phí, bởi vì có "Mùa xuân Praha" thì 9 năm sau mới có "Hiến chương 77" của hàng trăm nhà trí thức và những đảng viên Cộng sản Tiệp tiến bộ. Nó như một Bản Tuyên Ngôn chung đòi dân chủ, làm rung chuyển cả khối XHCN. Ðể rồi từ đó mới có thắng lợi của "Cuộc cách mạng nhung" 12 năm sau.
Rõ ràng giải pháp "cộng sản" cũng đã không giải quyết được vấn đề "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại !" như Mác kêu gọi. Mối bất hòa giữa hai nước đàn anh Liên Xô và Trung Quốc là rất sâu sắc, không thể hàn gắn được, và cũng đã có những cuộc xung đột vũ trang diễn ra tại biên giới Trung - Xô. Nó lớn tới mức mà không biết vô tình hay cố ý, CT Hồ Chí Minh trong di chúc của mình đã vội chia chủ nghĩa cộng sản ra thành hai : chủ nghĩa Mác - Lê Nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản ! Giải pháp ấy cũng không làm tan đi được đầu óc bá quyền nước lớn, muốn thôn tính nước nhỏ bằng bạo lực, có từ ngàn năm của các thế lực cầm quyền phương Bắc đối với dân tộc Việt Nam.
Có ai ngờ rằng sau 30 năm với hai cuộc chiến tranh, thì dân tộc ta lại phải bước tiếp vào hai cuộc chiến tranh nữa, ở biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc, mà nguyên nhân sâu xa đều do chính quyền Bắc Kinh gây ra. Máu xương của hàng trăm ngàn những người lính trẻ, những người dân Việt Nam vô tội lại phải đổ xuống. Mặc dầu họ - những người nay đã khoác áo cộng sản, từng nhiều lần tuyên bố: "Tình đoàn kết gắn bó giữa hai dân tộc là như môi với răng, môi hở thì răng lạnh". (có lẽ nên là như môi với… lưng thì tốt hơn!). Vì điều kiện địa lý, chúng ta không có cách lựa chọn nào khác hơn. Chúng ta luôn mong muốn cùng xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, nhất là với nhân dân Trung Quốc - những người cũng đã chịu quá nhiều thương đau. Nhưng với lịch sử đã qua, với những gì vẫn đang tiếp tục cho chúng ta thấy bản chất bá quyền nước lớn của đầu óc đại Hán, là không hề thay đổi trong các giới cầm quyền ở Trung Quốc. Chẳng những là đối với Việt Nam, mà còn đối với các nước khác trong khu vực. Ðây là khó khăn nhưng cũng là thuận lợi để Việt Nam có thể thiết lập được những mối quan hệ bền vững với các nước này. Từ đó sẽ tạo ra những đối trọng đủ mạnh đối phó với họ. Chính sợi dây ràng buộc "cùng ý thức hệ" hiện nay mới là nguy hiểm nhất, nó làm cho thế giới và các nước trong khu vực nghi ngại chúng ta. Sợi dây ấy có thể đứt bất cứ lúc nào như nó đã từng bị đứt, và bên chịu thiệt thòi vẫn là dân tộc Việt Nam. (một khi đã biết được dã tâm muốn "đánh tráo nỏ thần" rồi mà vẫn cho phép họ được "ở rể", thì những kẻ có tội với dân tộc chính là những "An Dương Vương" thời nay !)
b - Do chủ quan và phiến diện trong cách nhìn nhận về con người nên Mác đã đưa ra luận điểm : hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là hệ tư tưởng tiên tiến nhất trong xã hội, và Ðảng cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo đất nước.
Từ khi nền văn minh công nghiệp xuất hiện, thì bất cứ xã hội nào chịu ảnh hưởng của nó cũng có nhiều giai tầng khác nhau như đã liệt kê ở trên. Ta giả sử ứng với mỗi giai tầng ấy có một hệ tư tưởng, rồi lại có một ban giám khảo chấm điểm khách quan, thì chắc gì hệ tư tưởng của giai cấp công nhân đã đạt trên mức trung bình? Thế mà Mác cũng lại đưa nó lên vị trí hàng đầu, với ý định không hề giấu giếm là sẽ tiến tới chi phối, rồi triệt tiêu dần các hệ tư tưởng còn lại "bằng con đường tự nguyện"! Trong thực tế thì sự chống đối này là rất gay gắt. Có những người suốt đời đi "tiễu trừ bọn phản cách mạng" nhưng "tiễu" mãi mà bọn "phản cách mạng" kia không "trừ" đi, mà lại càng cộng thêm! Mác thật mâu thuẫn khi một mặt, ông kêu gọi mọi người hãy cùng nhau xây dựng một xã hội công bằng và bình đẳng. Nhưng mặt khác, ông lại bày ra chuyện "mâm trên - mâm dưới" ngay từ đầu như vậy.
Lý thuyết thì đã là như thế, thực tế còn tệ hại hơn nhiều : đó là sự thống trị của một thiểu số cầm quyền trong ÐCS lên toàn bộ xã hội, kể cả các đảng viên thường cùng toàn bộ khối "liên minh công - nông", mà lúc này hầu hết đều đã thuộc giai cấp bị trị. Mác đặt trọn niềm tin của ông vào các ÐCS, vì ông cho rằng đó là "bộ phận ưu tú nhất của một giai cấp tiên tiến nhất trong xã hội "! Cứ cho là như vậy đi, nhưng thử hỏi có cái gì làm cho người ta đam mê bằng thứ quyền lực được tập trung ở mức độ cao, được kéo dài không kỳ hạn và còn là duy nhất ?
Thực tế phe XHCN đã chứng minh rằng: không phải như Mác nói "Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ nhân dân", mà chính quyền lực mới là "thuốc phiện" của nhiều người cộng sản cầm quyền. Có những người sau khi đã rời chức vụ rồi, nhưng cứ ra ngẩn vào ngơ, tinh thần bất an vì vẫn còn muốn "phục vụ cách mạng đến hơi thở cuối cùng"! Ðể rồi đã có người đã thấy vậy mà đưa ra nhận xét: "Cái đít con người ta cóù trí nhớ, nó nhớ cái ghế!".
Sự đam mê ấy lại càng được cộng hưởng thêm khi nó được gắn với tiền, lúc này cũng lại được đem tập trung lại. Nếu như ăn, uống, ngủ, nghỉ người ta còn thấy có dấu hiệu của sự bão hòa thì nỗi đam mê quyền, tiền là không hề có dấu hiệu nào. Giả sử lúc đầu con người xã hội trong anh có thắng thế, thì cũng chỉ một thời gian sau nó cũng sẽ bị con người cá nhân trong anh nuốt chửng. Mọi cố gắng nhằm "chống chủ nghĩa cá nhân" trên quy mô toàn xã hội đều thất bại, trừ khi phần hồn lìa khỏi phần xác! Ðó là quy luật muôn đời, không trừ một đảng phái, giai cấp, tôn giáo hay dân tộc nào. Lịch sử nhân loại đã có rất nhiều ví dụ về nó.
Vì vậy bài toán lợi - quyền mà Mác hy vọng có thể giải quyết được qua giải pháp "cộng sản" cũng hoàn toàn chủ quan và phiến diện. Nó đã bị chính những người cộng sản cầm quyền phá vỡ: một khi mà đá bóng là anh, thổi còi cũng lại là anh, thì nhân dân chỉ còn có "mỗi" một việc là cứ lầm lũi làm ra cờ, cúp, giải thưởng để anh luôn luôn được đứng trên bục cao nhất mà thôi. Thử hỏi những cô Tấm ngày nay có còn động lực để "vớt tép" nữa hay không, khi mà tép trong giỏ của mình đã bị kẻ khác lừa trút hết? Những người chăm chỉ, dễ tin người và lương thiện thì chỉ còn "một con cá Bống", còn những kẻ lười biếng, giảo hoạt và vô lương tâm thì lại được thưởng "yếm đào".
Người ta thấy rõ sự bất công lớn giữa những người lao động trực tiếp làm ra của cải, vật chất cho xã hội, với hầu hết các quan chức lớn nhỏ trong các ÐCS. Cái kiểu "nấu cháo bằng rìu" này đã diễn ra thường trực, lâu dài và trên quy mô lớn trong toàn phe XHCN. Lê Nin đã từng có nhận xét : " Ngân hàng trong nền kinh tế TBCN là một tổ chức ăn bám bình phương". Nhưng ở các nước XHCN, thực tế đã cho thấy rằng: Có nhiều cá nhân, tổ chức mà mức độ ăn bám có số lũy thừa bậc cao hơn nhiều lần. Vấn đề là phải tạo ra một cơ chế kiểm tra, kiểm soát đầy uy lực của toàn xã hội lên các thế lực cầm quyền, chứ không phải là cứ "chốt" vấn đề từ trên như vậy, rồi đặt cho nhân dân một niềm tin tù mù rằng: trên ấy toàn là những "vì sao" thì ắt nó sẽ tỏa sáng! Theo tôi có lẽ Mác cũng có tính cả tin như có lần ông tâm sự với con gái của mình rằng đấy là đức tính mà ông dễ tha thứ nhất.
c - Do không tôn trọng các quy luật khách quan:
Ví dụ như trong kinh tế là gần như phủ nhận hoàn toàn quy luật giá trị, coi nhẹ vai trò của hàng hóa, tiền tệ. Tìm mọi cách, kể cả bằng bạo lực thường trực để thu hẹp những cơ sở hình thành nên nền kinh tế thị trường. Vì cho rằng chúng sẽ dẫn tới sự cạnh tranh, vô chính phủ, cá lớn nuốt cá bé và cuối cùng là sự khủng hoảng xã hội. Cơ chế chỉ huy tập trung ở các nước trong phe XHCN rất có lợi thế trong điều kiện chiến tranh, vì nó cho phép huy động tới mức tối đa mọi nguồn lực cho cuộc chiến. Nhưng chiến tranh là cái bất bình thường của cuộc sống, nó không phải là cuộc sống theo đúng nghĩa của nó. Còn trong điều kiện hòa bình thì vấn đề lại khác hẳn, ở đó đòi hỏi những nỗ lực sáng tạo bền bỉ của từng cá nhân, nhằm làm ra những sản phẩm khác nhau, phục vụ cho những nhu cầu cũng rất khác nhau của xã hội. Chứ không phải là mọi người cùng đi về một hướng, cùng thực hiện một mục đích, v.v...
Vì vậy những lợi thế của cơ chế này trong chiến tranh lại là những trở lực lớn trong xây dựng hòa bình. Biểu hiện cụ thể của nó là lối suy nghĩ cứng nhắc, một chiều dẫn tới cách làm việc độc đoán, duy ý chí và bất chấp quy luật. Hậu quả là những sản phẩm được làm ra thường là thiếu tính cạnh tranh trên thị trường thế giới, ngày càng mang tính toàn cầu hóa cao. Trong nền kinh tế XHCN, điều mà các nhà sản xuất quan tâm hơn cả là làm sao hoàn thành được kế hoạch nhà nước giao, chứ không phải là tính hiệu quả. Vì vậy nó cũng không cần để ý đến thị hiếu, sức mua của người tiêu dùng. Ví dụ ở Liên Xô trước đây người ta thường đúc luôn giá bán lẻ vào nhiều sản phẩm, chẳng hạn một bàn là giá 7 rúp (Rouble: đơn vị tiền tệ của Liên Xô), hay một quạt tai voi giá 14 rúp được bán ra vào giữa thập niên 60 thì đến giữa thập niên 70 nó vẫn giữ nguyên giá bán như vậy. (điều này thì nhiều anh chị em ta ở Liên Xô nắm khá chắc !).
Về mặt hình thức ta thấy được tính "ổn định" của giá cả, nhưng về mặt bản chất thì đó là sự vi phạm nghiêm trọng các quy luật kinh tế khách quan. Tình hình cũng tương tự ở các nước khác trong phe, như ở Trung Quốc với chiếc xe đạp Phượng Hoàng, ở Việt Nam với chiếc xe đạp Thống Nhất, với giá gạo mậu dịch bốn hào một cân, v.v ... được giữ vững nhiều chục năm *.
Ở trong các lĩnh vực khác cũng có một tình hình tương tự, ví dụ trong lĩnh vực văn hóa với những sản phẩm tinh thần được làm ra thường mang tính rập khuôn, giáo điều, lên gân và xa lạ với đời sống con người. Nó cũng làm "lưỡi gỗ hóa", thậm chí là trơ chẽn hóa trong hầu hết những cuộc trả lời phỏng vấn của các lãnh tụ cộng sản, những người phát ngôn, ... đây là căn bệnh chung và có tính "nghề truyền nghề"! Tất cả đã làm "đồng phục" hóa và "Gà công nghiệp" hóa hầu hết mọi thành viên trong xã hội, mọi người ăn, mặc, ở, đi lại, ... giống nhau, thậm chí cách nói năng, suy nghĩ cũng ít khác nhau. Vì vậy nó đã bóp chết rất nhiều khả năng sáng tạo, lối suy nghĩ độc lập,... của những con người sống trong các xã hội XHCN. Mọi sự đều mang dáng vẻ nhợt nhạt, thiếu sức sống. Ðể rồi khi mở cửa ra với thế giới bên ngoài thì thường bị hụt hẫng, lúng túng như những chú Gà công nghiệp dưới ánh nắng chói chang của mặt trời. Tất cả đều cam chịu một mức sống thấp đều nhau. Giả sử có ai đó muốn "nhô lên" thì cũng bị cơ chế ấy mau chóng kéo xuống. Trừ một lớp người đặc biệt đã tạo nó.
Toàn hệ thống còn có một đặc điểm nữa là: hầu hết đều ra đời sau chiến tranh hay nội chiến, vì vậy có những con người có công trong các cuộc chiến ấy. Xã hội phong kiến trước đây phân biệt rất rõ giữa chức và tước, nhưng nay thì tất cả đã bị lẫn lộn: người ta thường thưởng chức cho nhau thay vì ban tước, mặc dù ngay cả điều này cũng có những bất công lớn. Hậu quả là thước đo giá trị về con người bị biến dạng, cũng như trong kinh tế quy luật giá trị bị bóp méo. Sự" truyền ngôi" cho nhau những tưởng là đã mất, nhưng nó đã không mất đi mà còn diễn ra nhuộm nhoạm, phổ biến hơn theo những tính toán cá nhân của những người nắm quyền lực. Vì vậy trong đa số trường hợp nó đã không chọn được những người tốt nhất cho công việc chung. Có khi không phải là 9 bỏ làm 10 mà 3 - 4, thậm chí chẳng có giá trị gì cũng "bỏ làm 10"! Kể cả chức vụ cao nhất của các nước này là chức tổng bí thư ÐCS. Ðiều đó đã tạo ra những cuộc chạy đua mà "năng lực" của các ứng cử viên được "đo" ở cổng sau chứ không phải cổng trước. Chúng càng làm cho những con người chân chính nản lòng, hệ thống do vậy gần như đã mất hết động lực.
Biểu hiện trong tâm lý xã hội là: sau những hăm hở của một niềm tin trong sáng buổi ban đầu, thì nay là sự thất vọng, chán nản, buông xuôi. Nó gây ảnh hưởng xấu, có tính dây chuyền đến mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Chẳng hạn là tình trạng nhà nước thì "giả vờ" trả lương cho công nhân viên, rồi họ cũng lại "giả vờ" làm việc lại cho nhà nước. Năng suất và chất lượng lao động càng ngày càng tụt dốc thảm hại, trong khi vấn đề năng suất lao động lại là vấn đề quan trọng nhất, chủ yếu nhất. Chính nó, theo Lênin sẽ quyết định sự thành bại của phương thức sản xuất này so với phương thức sản xuất kia.
Hàng hóa và các loại dịch vụ ngày càng đơn điệu và khan hiếm, xã hội tẻ ngắt và buồn chán. Từ quy luật "Năng suất lao động không ngừng tăng lên dưới CNXH" bị phá vỡ đã kéo theo hàng loạt "các quy luật riêng có" khác của CNXH như : "Quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối nền kinh tế quốc dân", "Quy luật đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao" (còn được gọi là "Quy luật cơ bản của CNXH"), ... đều đã bị gẫy đổ. Cùng với sự thoái hóa nghiêm trọng của hệ thống chính trị, đã dẫn đến sự tan rã của toàn hệ thống XHCN như nó đã diễn ra. Lê Nin đã từng viết:" Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ". Các nước XHCN đã tự bảo vệ được mình trong các cuộc chiến tranh nóng, nhưng đã không làm được điều đó trong xây dựng hòa bình, và đã thua trong cuộc chiến tranh lạnh vừa qua.
Từ những trình bày trên ta rút ra kết luận : hệ thống XHCN trong thế kỷ 20 đã tự sụp đổ, vì nó bắt nguồn từ một học thuyết sai lầm, dẫn đến sự hình thành nên một cơ chế làm triệt tiêu hầu hết mọi động lực cho sự phát triển xã hội. Nó đã vĩnh viễn ra đi chứ không phải tạm thoái trào, để rồi một ngày nào đó sẽ phục hồi và quay trở lại như có những người đã từng phát biểu hoặc hy vọng. (tất nhiên có người làm vậy chỉ là để giả vờ trước nhân dân mà thôi). Cuộc "đại thực nghiệm" cho học thuyết của Mác ấy đã đại thất bại, sau 74 năm tồn tại trên nhiều vùng đất rộng lớn và đông dân cư của thế giới. Nó là một tai họa lớn cho nhân loại nói chung và nhất là cho nhân dân các nước XHCN nói riêng.
Trong suốt một thập niên qua ở các nước Ðông Âu và các nước cộng hòa cũ thuộc Liên Xô đã diễn ra nhiều cuộc bầu cử tự do. Có một tình hình là: bất cứ một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nào dù đã đổi tên gọi, nhưng nếu có ý định phục hồi lại Chủ nghĩa xã hội thì đều bị thất bại trước những lá phiếu của nhân dân. Cuộc bầu cử tổng thống Nga vào tháng 3/2000 vừa qua đã chứng minh thêm cho điều này. Có nhiều người vốn là những đảng viên cộng sản cũ đã thắng cử, điều đó cũng là bình thường. Nhưng nguyên nhân thắng cử là bởi họ đã thực sự là đại diện cho tiến trình dân chủ mới, và cử tri bầu họ là vì lẽ đó, chứ không phải là để quay về với con đường trước kia.
Những hỗn loạn, xung đột của nước Nga hậu cộng sản gần 10 năm qua là có thật, nhưng phải thấy rằng chúng là biểu hiện của những mâu thuẫn sâu xa đã có từ lâu trong quá khứ, nay mới có điều kiện để bung ra. Trước đây chúng đã bị dập đi bởi sự bưng bít thông tin và bởi bạo lực của nền chuyên chính vô sản, làm cho người ngoài khó thấy được. Nó chỉ chứng tỏ rằng: hễ càng ủ những mâu thuẫn ấy càng lâu thì khi đủ điều kiện phát nổ, chúng sẽ càng nổ lớn. Và một tổng thống Nga Bôrít-Enxin (Boris Yeltsin) nát rượu, tính khí thất thường. không phải là đại diện xứng đáng cho một nước Nga mới.
Cũng cần nhắc lại là so với các nước Ðông Âu thì thời gian Liên Xô xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội nhiều hơn những nước này đúng 30 năm, tức xây dựng trước 28 năm (1917/1945) và thêm 2 năm nữa (1989/1991). Nếu ai chỉ chú tâm nhấn mạnh đến những tiêu cực mà lại quên đi những bước chuyển mình thành công khác của nước Nga, các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và của các nước Ðông Âu là thiếu sự khách quan. Cách nhìn ấy là rất phiến diện, thậm chí còn là sai nếu lại đưa nó ra như một con ngoáo ộp đe doạ người dân, nhằm mục đích khước từ đổi mới chính trị. Bằng cách đó họ đã đi ngược lại với trào lưu dân chủ mới.
Một số nhận xét thêm:
Anh Hà Sỹ Phu - tiến sỹ sinh học hiện đang ở tại Ðà Lạt, trong bài viết Chia Tay Ý Thức Hệ có viết "lý thuyết của Mác như một cô gái cực đẹp nhưng lẩn thẩn "! Tôi chỉ xin góp thêm một ý: cô gái ấy đã bắt đầu bước vào đời sống nhân loại từ năm 1917, và nay thì phải cộng thêm tuổi cho cô gái lẩn thẩn này ! Mác đã từ bỏ tầng lớp trên của mình để đứng hẳn về phía giai cấp cần lao. Ôâng đã dành trọn sự nghiệp của mình để nghiên cứu và phát hiện ra nhiều căn bệnh trong lòng XHTB, giúp nhân loại tìm cách sửa chữa và điều chỉnh nó. Ðó là đóng góp rất lớn của ông. Nhưng nếu ông dừng lại ở đấy mà không kêu gọi xóa hẳn cái cũ, xây dựng cái mới, với xuất phát điểm là dùng bạo lực, thì nhân loại đã không phải trả giá đắt như ở thế kỷ 20 vừa qua. Thực tế nhân loại đã "chống cộng" là theo ý nghĩa này, chứ không phải là trọn gói, kể cả tinh thần xã hội rất cao đẹp cùng những đóng góp thật sự của Mác . Vì nếu là "trọn gói" tất nhiên sẽ gây phân hóa, để rồi rất dễ lâm vào tình trạng của những người cứ xô đại vào cánh cửa đã mở sẵn. Họ vừa tự gây thương tích cho mình rất đáng tiếc, vừa làm đau đớn những người xung quanh.
Chủ nghĩa cộng sản có được bao nhiêu năm thì phong trào chống lại chủ nghĩa ấy cũng có được bấy nhiêu năm. Chính sự thông minh, khôn khéo của nhân loại và của nhiều nhân vật lớn trên thế giới, đã góp phần quyết định chiến thắng được phong trào cộng sản nói chung và phe XHCN nói riêng, trong cuộc chiến tranh lạnh vừa qua. Chúng ta tin rằng nếu còn sống đến hôm nay, thì công việc đầu tiên mà Mác làm là xem xét lại toàn bộ học thuyết của mình. Bởi vì ông là một nhà khoa học thật sự, và biết đâu nhân loại sẽ được thấy một vị "Anh hùng chống Mác" lại chính là Mác cũng nên! Nhưng tôi cũng lại nghĩ thêm: có khi ông tìm đến để xin lại đứa con tinh thần của mình, thì ông lại bị chính những người đang khư khư giữ nó nhất quyết chống lại. (nhiều khi chủ nhà lại còn dễ hơn là mấy ông gác cổng!).
Với một ông Mác viết những Tuyên Ngôn Ðảng Cộng Sản,Tư Bản Luận, … dưới ánh đèn điện, lại được sự trợ giúp của truyền hình nhiều kênh, của mạng lưới thông tin toàn cầu (Internet), điện thoại, fax, ... sẽ khác với một ông Mác ngồi viết nó dưới những ngọn nến. Một ông Mác đi máy bay nhất định cũng không giống với một ông Mác đi xe lửa hay xe ngựa! Tổng kết về CNCS, cựu tổng thống Ba Lan Lếch-Valêxa (Lech walesa) đã có một câu nói lên sự thật phũ phàng, nhưng cũng thật chính xác: "Chủ nghĩa cộng sản là con đường dài nhất để đi từ chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa tư bản!".
Trong thực tế xã hội loài người đã vận động và phát triển hoàn toàn khác hẳn với những gì mà Mác đã dự đoán: cách mạng vô sản đã không nổ ra trước tiên ở các nước Tư bản chủ nghĩa phát triển nhất. (ông dự đoán là nước Ðức :"Những người cộng sản chú ý nhiều nhất đến nước Ðức, vì nước Ðức hiện nay đang ở vào đêm trước của một cuộc cách mạng vô sản ..." - trích Tuyên Ngôn Ðảng Cộng Sản). Mà lại nổ ra ở nước Nga, lúc ấy chỉ là một nước TBCN phát triển trung bình. Cái "mắt xích" ấy yếu nhất và bị "đứt" là bởi chiến tranh và nội chiến, do nước Nga Sa Hoàng tham dự đã làm cho nước Nga suy kiệt, nhân dân Nga, nhất là các tầng lớp công - nông - binh bất mãn đến cùng cực. Chính họ đã là lực lượng nòng cốt cho cuộc Cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 giành được thắng lợi. Nó tuyệt đối không phải là sự vận động và phát triển của "Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng