Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Điện Thư - Số 21
Tháng 6 năm 2004
Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Như đã minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam@yahoo.com
Tin Ghi Nhận:
4 người thuộc Hội Thánh Mennonite đã bị CA quận 2 giam giữ từ ngày 02/3/2004 gồm truyền đạo Phạm Ngọc Thạch, truyền đạo Nguyễn Văn Phương, truyền đạo Nguyễn Thành Nhân, chấp sự Nguyễn Hiếu Nghĩa. Hiện nay tình hình sức khỏe của 4 người này rất đáng lo ngại. Truyền đạo Thạch đã bị đánh trả thù dữ tợn vì đã dùng máy chụp và quay phim để ghi lại những cảnh đàn áp của Công An. Một vài nguồn tin từ những tù nhân cùng bị giam tại quận 2 được thả về cho biết truyền đạo Thạch bị đánh gần chết, có thể đã chết, và đã được đưa đi nơi khác.
Hơn 10 nghìn trẻ em gái Việt Nam đang bị nhà nước bỏ rơi: Từ nhiều năm nay, có rất nhiều các cô gái ở các tỉnh phiá bắc (tập trung nhiều nhất là Lạng Sơn), đã sang TQ lấy chồng vì xấu xí hoặc không chịu nổi cuộc sống khổ cực ở Việt Nam, nhưng họ đã phải cay dắng trở về Việt Nam cùng con gái của mình. Họ không sinh được con trai cho các đức ông chồng Trung Quốc nên dã bị đuổi về. Hiện tại các cháu gái nhỏ thuộc nhiều lứa tuổi vẫn không được làm giấy khai sinh, không được hưởng bất cứ quyền lợi nào như các trẻ em bình thường khác. Luật pháp Việt Nam chưa có điều khoản nào quy định cho trường hợp này. Như vậy, hơn mười nghìn trẻ em gái hiện đang sống tại Việt Nam mà không được coi là công dân của Việt Nam, các em dang bị gạt ra ngoài lề xã hội. Đã có nhiều phóng viên đi tìm hiểu thực tế, nhưng chưa báo nào dám đưa tin "nhạy cảm" này. Người ta đặt một câu hỏi là tại sao bao năm nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn nhẫn tâm làm ngơ trước số phận của những người dân như vậy ?. Đến bao giờ các cháu nhỏ đó mới dược quan tâm ?
Ân Xá quốc tế quan ngại cho sức khỏe của nhà báo Nguyễn Vũ Bình vừa chấm dứt tuyệt thực sau 14 ngày nhịn ăn. Ân Xá quốc tế yêu cầu Hà Nội phải cung cấp đầy đủ thuốc men và chăm sóc sức khỏe ông Bình đúng mức. Theo tổ chức Ân Xá quốc tế thì quyền dân sự và chính trị tại Việt Nam năm qua, chưa có sự cải tiến nào rõ rệt nào. Những nhân vật bất đồng chính kiến, từng lên tiếng đòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền trong nước, hiện còn trong vòng lao lý, được Amnesty International nhắc tới trong bản phúc trình gồm có bác sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình, bác sĩ Nguyễn Đan Quế.
----- O -----
Sự hư hỏng của quyền lực
Tuệ Minh
Ở đâu quyền lực hiện diện, ở đó có sự lạm dụng quyền lực đi kèm với nó, như hình với bóng
Vụ ngược đãi tù nhân với đủ mọi cách ghê tởm ở nhà tù Abu Ghraib đã dấy lên một làn sóng phản đối rộng khắp trên toàn thế giới. Nhà cầm quyền ở Washington lúng túng chống chế bằng mọi giọng, rằng họ không hề có chủ trương như thế, rằng việc xảy ra là do một số quân nhân tự tiện hành xử không cần có lệnh trên. Những con dê tế thần được đưa ra: vài viên tướng bị thuyên chuyển, vài sĩ quan và lính bị đưa ra xử trước toà án binh. Người ta ém nhẹm chương trình SAP (Special Access Program), theo đó thì trong cách đối phó với kẻ địch quân nhân Mỹ “có quyền giết hoặc bắt, và nếu cần có quyền hỏi cung bằng mọi cách những đối tượng quan trọng". Chính ông Rumsfeld, bộ trưởng bộ quốc phòng, là người đề xuất chương trình này và thứ trưởng phụ trách tình báo Stephen Cambone là người thực hiện. Khó có thể khẳng định tổng thống Bush không biết đến một chương trình ấy. Bóng đen của nhà tù Abu Ghraib che lấp cả cuộc tấn công đơn phương của Mỹ vào Iraq, bất chấp dư luận quốc tế, là vụ lớn hơn nhiều.
Quyền lực, tự nó đã chứa sẵn một hiểm hoạ - đó là sự lạm dụng quyền lực. Ở đâu quyền lực hiện diện, ở đó có sự lạm dụng quyền lực đi kèm với nó, như hình với bóng.
Vụ ngược đãi tù nhân sẽ bị quyền lực Mỹ bịt đi nếu như những bức hình chụp những cảnh tra tấn theo kiểu nhục mạ được đăng tải tràn lan trên các mặt báo, không phải chỉ ở các báo nước ngoài, mà chính trên các trang báo Mỹ. Chương trình SAP sẽ còn tiếp tục được duy trì nếu như không bị nhà báo Seymour M. Hersh phát giác rằng nó xuất phát từ cấp cao nhất của Nhà Trắng. Hersh cũng chính là người đã phanh phui vụ thảm sát Mỹ Lai do quân đội Mỹ tiến hành ở Việt Nam. Cùng tham gia vào việc tố cáo trước công luận Mỹ và thế giới có cả những quan chức trong CIA và trong quân đội. Xu hướng đổ lỗi cho cấp dưới làm sai, chứ cấp trên bao giờ cũng đúng (một phương pháp biện giải các lỗi lầm và cả tội ác nữa chung cho rất nhiều chính quyền trên thế giới) tỏ ra không còn hiệu nghiệm.
Chính quyền ở siêu cường quốc Hoa Kỳ, với não trạng tự thị cố hữu của quốc gia giàu có và hùng mạnh nhất thế giới, quen coi các nước khác bằng nửa con mắt, nay thèm thuồng hướng cặp mắt mệt mỏi về phía Bắc Kinh, Bình Nhưỡng, La Havana và Hà Nội. Với cách điều hành việc nước ở những nước này, những chuyện tương tự như chuyện xảy ra ở nhà tù Abu Ghraib chỉ là chuyện vặt. Nhân dân trong các nước ấy còn chẳng được biết, nói gì đến dư luận thế giới !!
Đố ai biết được con số chính xác những người đấu tranh cho dân chủ đang chết mòn trong các nhà tù ở các nước ấy ? Đố ai biết được những cách ngược đãi tù nhân trong các nhà tù ở đó là như thế nào? Đố ai biết được ở đó người ta buôn bán những bộ phận cơ thể của các tử tù với số lượng bao nhiêu ? Đố ai biết được ở đó có bao nhiêu người chết đói ? Đố ai đếm được số gái điếm ở các nước ấy là bao nhiêu ?
Người ta nói đến những con số áng chừng: hàng ngàn, hàng vạn, hàng trăm ngàn … Chẳng con số nào có thể được gọi là chính xác. Tất cả nằm trong sự tù mù.
Chính quyền độc tài, chính quyền chuyên chế, chính quyền vô sản chuyên chính, chính quyền dân chủ nhân dân …, chính quyền nào cũng được, miễn không phải chính quyền dân chủ - đó là ước mơ của bất cứ người nào nắm chính quyền.
Còn nhân dân ? Moi người thích thứ chính quyền nào ?
----- O -----
Tiểu luận
Dương Thu Hương
Ha noi - Viet nam
Trước hết, tôi xin được nói vài lời phi lộ: Tôi không chỉ là người chuyên đấu tranh cho dân chủ, tôi cũng còn là người viết văn, vì lẽ đó, chắc chắn trong vài năm tới, nếu trời phật còn cho sống tôi sẽ không có cơ hội gặp gỡ mọi người, trả lời các cuộc phỏng vấn hoặc tham gia bàn luận về những vấn đề liên quan đến đất nước. Do đó, nhân dịp này tôi xin được trình bày một cách đầy đủ những ý nghĩ của riêng tôi về cuộc đấu tranh dân chủ ở V.N. Nếu bảo rằng: "Nói một lần cho tất cả" là quá vội vã và hàm hồ thì chí ít bài phát biểu này cũng sẽ bao hàm tất thảy những ý nghĩ của tôi trong một giai đoạn dài, và tôi sẽ không trở lại vấn đề này lần nữa.
Thứ hai, tuy đã từ lâu xác định hy sinh cuộc đời mình cho lợi ích của nền dân chủ, nhưng tôi không nuôi mộng cầm quyền không bao giờ hình dung mình trong vai trò thủ lĩnh của bất cứ một đảng phái nào, dù là Tự do, Dân chủ, Cánh tả hay Cánh hữu nếu như chúng có thể xuất hiện một ngày nào đó trong tương lai, xa xôi hay gần gũi. Tôi tự biết một cách đích xác rằng tôi không có phẩm chất của chính khách hành nghề chính trị, thứ nghề đòi hỏi trước hết khả năng tập hợp và chỉ dụ một đám đông. Bởi lẽ, về bản chất, tôi là người một mình, tôi không thích lãnh đạo ai và cũng không để ai lãnh đạo. Nói cho minh bạch để một mặt, những ai ước vọng cầm quyền, dù ở trong nước hay hải ngoại có thể yên tâm tuyệt đối, và mặt khác tất cả những gì tôi sẽ nói đều xuất phát trên cái nhìn trước hết của một nhà văn và sau đó, của một người tranh đấu cho lợi quyền của dân chúng, không phải nhãn quan một chính khách.
Thứ ba, tôi phải xin lỗi trước tất cả những ai vốn coi lòng tự hào dân tộc như một di sản bất biến và đinh ninh đó là một kho tàng vô hạn bởi những điều tôi sắp nói chắc chắn không phải mía lùi hay mật ngọt và nó có nguy cơ làm thương tổn lòng tự ái, vốn là một thứ tình cảm vô cùng mãnh liệt không chỉ riêng có ở người VN mà có tính phổ biến của nhân loại.
Giờ, xin đề cập tới vấn đề chính: Việc bắt bớ hàng loạt những người đấu tranh cho dân chủ kể từ năm 2002 tới nay và vụ xử án ông Phạm Quế Dương sắp tới. Theo lá thư thứ hai của bà Đỗ Thị Cư vợ ông Phạm Quế Dương gửi nhà cầm quyền, tôi được biết ông bị kết tội làm gián điệp (mười ba năm trước họ cũng đã từng kết tội tôi là gián điệp, bán bí mật quốc gia cho ngoại bang) ông bị đe doạ lãnh án từ 12, 20 năm tù đến chung thân hoặc tử hình theo điều luật 80 - Bộ luật hình sự.
Ở đây, tôi không cần nhấn mạnh vào tính chất phi lý, phi pháp, phi nhân biểu hiện ở bản luận tội vừa tàn bạo vừa đê tiện của người đại diện cho chính quyền và Ban văn hoá tư tưởng VN, cái thứ tổ chức đặc trưng cho các Nhà nước xây dựng theo mô hình phát xít, tôi chỉ bàn tới tính Ngạo ngược hiển hiện ra trong từng lời từng chữ của họ. Vu khống, sỉ nhục, tàn diệt vốn là hành xử tự nhiên của kẻ cầm quyền ở những xứ sở chưa phát triển, dân trí thấp kém. Tuy thế, cách hành xử này dù muốn hay không cũng phải tìm một hình thức thoả hiệp với thời đại, hoặc nói nôm na nó phải uốn mình theo cuộc thế, chí ít là để nguỵ trang để tránh các phản ứng bất lợi và tìm hiệu quả. Bản luận tội ông Phạm Quế Dương không cần xử dụng chút nào nguyên tắc đó, nó bộc lộ tính tàn ác, phi lý một cách trắng trợn và Ngạo ngược. Sự ngạo ngược này chỉ có thể hình thành trên hai yếu tố tâm lý sau:
- Thứ nhất, nhà cầm quyền có lòng tin tuyệt đối ở sức mạnh của họ. Sức mạnh đó tỳ trên Nòng súng và sự Sợ hãi thâm căn cố đế đã trở thành một phần bản thể của dân chúng (Une peur viscérale- không có từ chính xác để dịch).
- Thứ hai, họ cũng tin tuyệt đối vào sự bất khả và sự mong manh của phong trào dân chủ nói chung và những người đấu tranh cho dân chủ nói riêng.
Bất hạnh thay, lòng tin của họ lại có cơ sở thực tiễn. Đó chính là điều cần phải nghĩ. Điều này đã ám ảnh đã theo đuổi tôi ít cũng gần hai thập kỷ, kể từ 1985 là thời điểm tôi dấn thân vào cuộc đấu tranh này. Ai cũng biết rằng tất thảy những nhà nước thuộc phe xã hội của chủ nghĩa đều xây dựng trên sức mạnh đàn áp, theo công thức của Lénine. Cái nôi của chính thể bao giờ cũng là một cuộc chiến tranh rộng lớn, khá dài lâu để sự xáo trộn đủ thời gian gây ra một hiệu ứng hai chiều: Sự tôn vinh bạo lực và tâm lý tòng phục trong dân chúng. Chính thể tiêu biểu cho hệ thống này đương nhiên là Liên Bang Xô Viết. Chính thể đó đã sụp đổ hơn một thập kỷ nay. Muốn hay không, dù cho rằng các đảng phái đối lập ở Nga chỉ là một đám vỏ ốc, dân chúng không có thói quen sinh hoạt chính trị và Putin chỉ là một Pie Đại đế tái sinh … nhân loại vẫn buộc phải công nhận rằng ở Nga xã hội đã chuyển biến, đã có nền móng của một xã hội dân chủ dẫu rằng nền móng đó còn mong manh và giai đoạn tập sự xem ra còn khá dài lâu. Chỉ còn lại ba quốc gia bé nhỏ, xem ra là di tích vững chắc nhất của một hệ thống đã sụp đổ: Cuba, Bắc Triều Tiên, Việt Nam. Vì không có ước vọng trở thành nhà phân tích chính trị xuyên quốc gia nên tôi xin tập trung vào vấn đề hiện đang làm nhức nhối tất thảy những ai quan tâm đến tiền đồ của xứ sở: Nhà cầm quyền VN lấy ở đâu sức mạnh và niềm tự tin ấy ? Nguồn suối nào đã và đang nuôi dưỡng một chính quyền thối rữa một cách công khai, vô năng một cách hiển nhiên trên nhiều lĩnh vực và tàn bạo một cách ngạo ngược trong việc đàn áp dân chúng ? Sự tồn tại của khối mâu thuẫn này là một phương trình không dễ dàng tìm ẩn số. Tuy nhiên, công việc của chúng ta buộc phải tìm ra các ẩn số đó bằng mọi giá. Để có cơ sở tham chiếu tôi xin mượn lời một nhà báo Pháp, Claude Allègre trong bài Cực hữu, Cực tả (Extrême droite, Extrême gauche - L’Express/page 40/ 29-8-2002) sau cơn khủng hoảng của nền dân chủ Pháp, sự đột phát của làn sóng Cực hữu mà đại biểu là Le Pen. Trong bài viết này ông Claude xác nhận:
“… Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khmer đỏ, những trại tập trung cải tạo Cambodgiens, những cuộc tàn sát hàng nghìn trẻ em hay người lớn. Và Ceausescu ở Roumanie ? … Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm này đã chiến thắng các siêu cường quốc (ce peuple courageux a bouté hors les murs les super – puissances) người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thi thố trên xứ sở đó cũng như ở tất thảy các quốc gia “dân chủ nhân dân khác”. Đương nhiên cụm từ "Dân chủ nhân dân" được đặt trong ngoặc kép. Ông Claude Allègre đã nói đúng một phần của sự thật: Dưới cái cớ là dân tộc can đảm này đã chiến thắng các siêu cường quốc, người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi ở đó … Một phần khác của sự thật mà ông Claude Allègre chưa nhắc đến, đó là chủ nghĩa bài Mỹ là chất xi- măng gắn kết rất nhiều quốc gia.
Chính thứ Antiaméricanisme này là lý do ngầm ẩn để người ta giàu lòng khoan dung với Việt Nam, một Việt Nam trên danh nghĩa chung mà không biết rằng Việt Nam là một thực thể mơ hồ trong đó nhào trộn máu của những kẻ bị đàn áp lẫn vàng của kẻ thống trị, ân sủng của kẻ cầm quyền lẫn nỗi thống khổ của dân đen, sự ngạo mạn tàn ác của kẻ mạnh lẫn sự khiếp nhược hèn mọn của kẻ yếu … và tất thảy chìm đắm trong một thứ vinh quang lịch sử vừa mờ mịt khói sương huyền thoại vừa óng ánh trang kim của sân khấu tuồng chèo. Danh từ Việt Nam giờ đây được dùng như một thứ biểu tượng nhằm hạ nhục Mỹ và thoả mãn phức cảm Antiaméricanisme. Bất cứ ở xó xỉnh nào trên hành tinh này xảy ra xung đột với Mỹ, người ta nêu tên Việt Nam như lời cảnh cáo:
- … Hãy coi chừng một Việt Nam mới …
- … Các nhà quan sát cho rằng rất có thể trong một tương lai không xa lịch sử sẽ lặp lại lần nữa điều mà người ta thường gọi là Hội chứng Việt Nam …
- … Như ở Việt Nam năm xưa, giờ đây lính Mỹ đã bắt đầu chán nản … vân vân và vân vân …
Đương nhiên, nhà cầm quyền Việt Nam lợi dụng tối đa điều này. Dưới bàn tay cắt cúp, dàn dựng của các đạo diễn da vàng tóc đen, nhiều đoạn tản đàm trong báo chí phương Tây cũng như các châu lục khác được sử dụng như một thứ chất liệu quý báu để dựng lên bức tượng đài vĩnh cửu, tôn vinh tinh thần quả cảm và sức mạnh bất khả chiến bại của một dân tộc nhỏ bé nhưng anh dũng vô song. Điều này có khiến cho dân chúng hãnh diện không ? … Tôi tin là có, không chỉ người Việt sống trong biên thuỳ mà còn cả một bộ phận người Việt sống nơi hải ngoại. Hơn nữa, không chỉ người trưởng thành mà còn cả đám trẻ thơ. Vào những ngày cuộc chiến tranh liên quân Mỹ – Anh với Irắc bùng nổ, ở những nơi tôi thường lui tới, lũ trẻ bàn tán sôi nổi:
- Chúng ta cần phải sang giúp người Irắc, họ không đánh Mỹ thiện chiến như dân ta.
- Rồi ta sẽ lập các đội quân tình nguyện, cả thanh niên và thiếu niên sẽ được phiên chế hết. Ở Bát - đa, tổng thống Sadam kêu gọi nhập ngũ cả những đứa tuổi mười hai …
Vậy là, thừa nhận hay không, tinh thần lính đánh thuê và óc hiếu chiến đã xâm nhập vào não trạng của thế hệ trẻ, một trạng thái bệnh hoạn chắc chắn chưa từng xẩy ra trong tâm lý dân tộc Việt từ thuở dựng nước tới nay. Cuộc chiến tranh chống Mỹ đã trôi qua hơn một phần tư thế kỷ, xuýt xoát ba thập niên nhưng toàn bộ hoạt động tinh thần của xứ sở vẫn sống trong cuộc chiến tranh ấy. Một cách hoàn toàn chủ ý, nhà nước Việt Nam giáo dục và bắt buộc công dân phải tưởng niệm cuộc chiến tranh này một cách liên tục, không ngưng nghỉ: Các chủ đề chỉ định cho báo chí, các cuộc triển lãm, các trương trình văn hoá, nghệ thuật. Mọi người phải sống với cuộc chiến đã qua như sống với vị hôn thê, phải nghe những bài hát lặp đi lặp lại ba mươi năm liền, từ đài phát thanh quốc gia đến thứ loa ra rả gào thét ở phường khóm, phải xem những vở kịch, những cuốn phim về lịch sử chống Mỹ cứu nước ròng rã ba thập kỷ, phải tham dự những cuộc họp, những cuộc trình diễn mà dù bất cứ chủ đề nào bóng dáng của chiến thắng lẫy lừng năm xưa cũng phải tái hiện cho dù lạc lõng … Một nhà văn cho ra đời cuốn tiểu thuyết mang tên: “Ăn mày dĩ vãng". Vô tình hay hữu ý thì cái nhan đề này khá chính xác với tính cách của chính phủ hiện hành. Nói một cách khác, chính quyền Việt Nam là chính quyền mắc chứng dâm thi. Nó chỉ có thể làm tình với thây ma vì điều đó đem lại sự thoả mãn và cho nó lý do tồn tại. Bản thân nó vô giá trị. Vì thế, không có cách nào khác nó phải dựng thây ma của quá vãng lên, tô son vẽ phấn cho vị thần hộ mệnh.
Vâng, đúng như vậy, vị thần hộ mệnh của chế độ này chính là cuộc chiến tranh đã qua được gọi tên là cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
Dù đã qua ba mươi năm, cuộc chiến tranh này vẫn là bức tường thành che chắn cho những kẻ cầm quyền. Vì sao ?… Vì ba lẽ:
- Thứ nhất, cuộc chiến tranh nào cũng đòi hỏi một bộ máy thực thi chiến lược lẫn chiến thuật. Cuộc chiến càng rộng lớn, càng khốc liệt, bộ máy càng đồ sộ, phức hợp và chặt chẽ để đáp ứng các đòi hỏi của nó. Khi chiến tranh kết thúc bộ máy quân sự khổng lồ này sẽ chuyển thành tường luỹ của Nhà nước cầm quyền, và sức mạnh bạo lực của nó sẽ hướng tới một đối tượng mới, không còn là kẻ ngoại xâm mà là những anh em nội tộc nhưng bất tuân phục.
- Thứ hai, cuộc chiến tranh chống Mỹ là cuộc chiến khốc liệt nhất trong lịch sử, số người thiệt mạng lên tới ngót một chục triệu, tổn thất lớn lao này không thể nào tránh gây ra những chấn thương tinh thần trong não trạng chung. Sự sợ hãi bạo lực được khắc phục trong chiến tranh do trạng thái thăng hoa của tinh thần yêu nước giờ đây trở lại nguyên trạng hoặc sa sút trở thành sự khiếp nhược trước sức mạnh đàn áp của kẻ cầm quyền. Thêm nữa, tâm lý tự thoả mãn với một sự tồn tại tối thiểu … Cũng còn hơn là chết … làm cùn mòn tất thảy những khát vọng và khả năng tranh đấu nơi dân chúng.
- Thứ ba: Bức tượng đài “Chiến thắng vĩnh cửu” được dựng lên đem lại một thứ lợi ích kép cho nhà cầm quyền: Đối với ngoại bang, họ được hưởng thứ đặc ân như tôi vừa phân tích, đối với dân chúng, lòng tự hào dân tộc là món tiền chuộc lớn lao, một thứ Tôn giáo, thuốc phiện của nhân dân, để chuộc lại những khoản tham nhũng liên miên hàng trăm tỷ, những vụ đổ bể tai tiếng như vụ án Năm Cam, sự hiện diện ô nhục của những con người mà tiếng tăm về sự ngu dốt cũng như về phẩm hạnh đã trở thành đề tài tiếu lâm hàng ngày ở cửa miệng dân chúng … Như thế, một thứ vô hình mà chuộc lại được những thứ đếm được, cân đong được, biến chúng thành các Compte ở các ngân hàng ngoại bang quả là đáng giá lắm. Cho nên, việc tô son trát phấn thậm chí nói khoác, nói thêm cho một vinh quang trong quá khứ là món đầu tư béo bở, hiệu quả gấp nhiều lần các vụ đầu tư thông thường trên thương trường.
Dân chúng, không phải quá nhu nhược đến mức tự nguyện chìa chân ra cho đỉa hút máu, nếu không những người nông dân Hải Hưng đã chẳng đặt tên mới cho Đảng cộng sản VN là Đảng Cộng đớp, rồi sau đó, đám dân đen đô thị tục tĩu hơn đổi thành Cộng mút …
Dân chúng, cũng không quá ngu dốt đến mức không biết rằng một chế độ tham nhũng trên bình diện toàn quốc ắt hắn phải liên kết và sử dụng bọn xã hội đen, Năm Cam ra toà nhưng Sáu Quýt, Bảy Chanh, Tám Bòng, Chín Thanh Yên, Mười Phật Thủ … vẫn còn lại trong lâu đài biệt thự của các ông lớn … Nhưng một thứ triết lý cho mình: Thôi thì, cũng còn hơn là phải chết … Và một thứ triết lý dành cho kẻ cầm quyền: Thôi, dầu sao các ông ấy cũng đã thắng Mỹ … Cặp ý tưởng song trùng này trói chân tay họ lại, bít bùng cái nhìn của họ, làm tan loãng mọi ý chí ở trong họ. Đó là lý do chính giải thích tại sao kẻ cầm quyền lại vững tin đến thế, và phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam lại non yếu, cô đơn đến như vậy. Cuộc chiến tranh đã xoá đi sinh mạng của hàng chục triệu người để lại tàn tích không chỉ một mà tới ba thế hệ về phương diện thể chất: Tàn phế, tâm thần, quái thai hoặc thiểu năng do chất độc da cam. Nhưng sự tổn thất tồn tại trên bình diện tinh thần còn trầm trọng hơn nhiều: ở ngoài các trại thương binh, các nhà thương điên, những trẻ khuyết tật, những trung tâm điều trị chiến binh tâm thần … ở ngoài tất thảy những nơi chốn mà nỗi đau thương của con người hiện lên rõ rệt, một thứ chấn thương khác, trùm lợp, lan tràn, chế ngự xứ sở chúng ta:
Sự tê liệt của ý chí.
Sự tê liệt ý chí của dân chúng, đặc biệt ở tầng lớp tinh hoa là dấu hiệu suy đồi sức sống của một dân tộc và là biểu hiện rõ rệt nhất cho sự cố kết của các lực lượng cản trở tiến bộ trong xã hội. Các lực lượng phản tiến bộ càng mạnh, trạng thái tê liệt càng kéo dài, càng trầm trọng và khả năng phục hồi càng khó khăn.
Lý thuyết chỉ cho chúng ta thấy rằng muốn phục hồi ý chí cho một con bệnh suy nhược tâm thần cần phải giải toả những dồn nén tàng trữ trong họ. Cũng không khác biệt quá nhiều giữa một cá thể với một tập hợp cá thể: một đám đông. Sự tê liệt ý chí hiện nay được hình thành từ nhiều yếu tố, nhưng yếu tố căn bản nhất, là mặc cảm Hàm ơn.
… Dù sao, Đảng cũng đã dẫn dắt nhân dân qua hai cuộc kháng chiến thần thánh, dưới sự chỉ đạo của Bác Hồ …
Đại bộ phận dân chúng Việt Nam cho tới lúc này vẫn nghĩ như thế, do đó họ khoanh tay thở dài trước những hành vi tham tàn, đồi bại, táng tận lương tâm của nhà cầm quyền. Thêm nữa hình ảnh Vị cha già dân tộc, râu tóc bạc phơ vẫn chỉ đạo cuộc “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và "Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân" là biểu tượng hết sức thơ mộng cho cuộc chiến. Nó quyến rũ hàng chục triệu con người, nó lay động hàng chục triệu con tim, làm thổn thức tâm hồn dân chúng và không ít những người ngoài biên giới. Điều mỉa mai là chính Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là người thứ nhất phản bác lại cuộc chiến tranh này trong Đại hội Đảng lần thứ ba. Do ông tuyệt đối thiểu số nên ông đã phải phục tùng tuyệt đại đa số phe chủ chiến dưới sự lãnh đạo của hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Phần cuối đời, vị Chủ tịch nước đã phải hành động như một con rối dưới những ngón tay giật dây của hai nghệ sỹ họ Lê thay vì chịu bị giam vĩnh viễn trong một nhà nghỉ mát sang trọng nào đó, ở Quảng Đông hoặc Quảng Tây chẳng hạn … Nhưng đây không phải lúc bàn về ông Hồ Chí Minh, tôi chỉ đưa sự kiện này ra như một bằng chứng về tính sân khấu hài hước của cái thường được mệnh danh là lịch sử. Và như thế, yếu tố đầu tiên của cuộc chiến tranh là yếu tố gi. Nói một cách khác nó là một Dữ kiện Sai.
Điều thứ hai cần phải bàn đó là: Cuộc chiến tranh Thần Thánh! có Cuộc chiến tranh thần thánh nào là thật Thần Thánh hay không ?… Có, đó là cuộc kháng chiến chống Pháp, đó là ngày hội của một dân tộc sau một trăm năm tối tăm nô lệ tìm lại được bản diện của mình và sẵn sàng chết một trăm lần chết để gìn giữ bản diện ấy. Nó là cuộc chiến tranh thần thánh vì nó biểu hiện ý chí bất khuất và tình yêu Tự do của người Việt. Cuộc đấu tranh đó là cú nhẩy ngoạn mục của Ê- dôp xuống vực thẳm để được Chết như một người tự do. Nhưng ngay cả thời khắc ý chí của mấy chục triệu người sôi sục như lửa cháy, ông Hồ cũng vãn phải tìm mọi biện pháp mềm dẻo hy vọng né tránh hoặc trì hoãn cuộc chiến. Hẳn không ai quên được Hội nghị sơ bộ ngày 6 tháng 3 và một hội nghị Fontainebleau. Cũng khó quên được lời trần tình của Ông trước dân chúng: "Hồ Chí Minhh không bán nước …". Sự thận trọng và kiên trì đó biện minh cho tính chính nghĩa của cuộc chiến tranh: Dân tộc Việt không thích chiến tranh nhưng sẽ làm nó với toàn bộ sức mạnh của mình khi không còn cách nào khác.
Thời gian đó, chúng ta không còn cách nào khác bởi sự tham tàn và thủ cựu của Chính phủ De Gaule, mặc dù De Gaule là một chính khách quyết đoán, tài ba, một vị tướng đã cứu vãn danh dự nước Pháp nhưng ông ta đã tỏ ra vô cùng sai lạc trong đối sách với nước Việt Nam non trẻ. Cái giá đã trả là Điện Biên Phủ. Và sau đó, như một hiệu ứng Dominique, Angérie. Khép lại trang này, tôi xin khẳng định một lần nữa, đối với tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp thực sự là cuộc chiến tranh Thần Thánh.
Giờ, tính đến cuộc chiến tranh chống Mỹ, nó là một cuộc chiến tranh "Thần thánh" (?), được dẫn dắt dưới ánh sáng các thần linh hay ngược lại nó là một cơn binh đao đưa dẫn dưới ánh lửa của mưu ma chước quỷ ?...
Toàn bộ sức mạnh của cuộc chiến tranh tựa trên hai từ Cứu Nước. Cứu nước, là tiếng kèn lệnh kêu gọi truyền thống đấu tranh của người Việt. Truyền thống này tồn tại hàng nghìn năm như một yếu tố vĩnh định trong cấu trúc tâm lý. Tống, Nguyên, Minh, Thanh … Thái thú Tô Định, Tướng Thoát Hoan, núi Yên Ngựa, Bạch Đằng Giang … những cái tên lịch sử trước khi ghi trên giấy trắng bằng quốc ngữ đã ghi trên giấy quyến bằng chữ Nôm, chữ Hán và được truyền khẩu rộng rãi trong dân chúng. Một truyền thống như thế lẽ đương nhiên tạo ra những nét hằn trong cách nghĩ, cách ứng xử, cách sống, cấu thành một bộ phận của tính cách lẫn thói quen, một bản năng thứ hai nơi con người. Do đó, thế hệ của tôi đã lên đường: xẻ dọc Trường Sn đi Cứu nước. Bản thân tôi, cũng từ chối một cuộc sống may mắn hơn để tình nguyện vào tuyến lửa. Sẽ không có gì đáng phải phàn nàn nếu đây là một cuộc chiến tranh thực sự nhằm Cứu Nước. Nhưng cùng với tháng năm, tất cả những màn kịch dựng lên đã phải hạ hồi. Những bí ẩn tưởng quyền lực có thể mãi mãi che dấu cũng tới lúc bị phanh phui. Cùng với dữ kiện: Bác Hồ kính yêu buộc phải tuân theo đa số và vì yếu thế, phải sắm vai hề theo ý của hai người đồng chí đã trở thành Cai ngục. Chúng ta có được dữ kiện thứ hai: Cuộc chiến tranh chống Mỹ không phải là cuộc chiến tranh Cứu nước như mọi người ngộ nhận, đó là cuộc đụng độ giữa hai thế lực hiếu chiến:
Vào thời gian đó, cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống chính trị trái ngược đã lên đến cao điểm. Bên nào cũng muốn chiếm ưu thế trong cuộc cạnh tranh. Đối thủ của Mỹ không phải nước Việt Nam bé tí mà là nước Trung Hoa khổng lồ man rợ trong sự kiêu ngạo tối tăm của nó. Việt Nam là một dân tộc nhỏ nhưng Antichinois dai dẳng và quyết liệt, vì thế Chính phủ Mỹ đã chọn Việt Nam như một đội quân tiên phong ngăn chặn Làn sóng Đỏ. Về phía miền Bắc, Đảng cộng sản Việt Nam được khích lệ bởi người cầm lái vĩ đại họ Mao: Mỹ là con Hổ giấy, đừng sợ, đánh Mỹ các đồng chí sẽ được lịch sử ghi danh, những chiến sĩ tiền đồn chống đế quốc Mỹ và bè lũ tư bản thối tha, cắm ngọn cờ hồng Mác- Lê nin trên khắp địa cầu … đã huy động toàn dân cầm vũ khí.
Tóm lại tiến hành cuộc chiến này chủ động cả hai phía.
Dưới sự chiêu dụ của những lý lẽ hào hoa dân tộc Việt bị xé làm đôi, một cách vô thức đã tự nguyện biến thành hai đội quân đánh thuê cho hai hệ thống chính trị đối nghịch, một cách vô thức biến mình thành một thứ tampon giữa hai toa tàu lịch sử, một cách vô thức biến giang san cha ông để lại thành chiếc cối xay thịt khổng lồ, tự lao vào như những đám thiêu thân trong một cuộc binh đao huynh đệ tương tàn chưa từng có trong quá khứ.
Thời gian là người tạc tượng khổng lồ. Với thời gian tất thảy mọi o vọng tan nát, mọi giấc mộng ngông cuồng tan thành mây khói, mọi lầm lạc được tháo cởi. Với thời gian, chúng ta hiểu được những sự thật về bản thân cũng như về dân tộc mình. Chúng ta là những kẻ ngu ngơ, dại dột, lầm lạc bởi chúng ta sinh ra trong một dân tộc ngu ngơ, dại khờ lầm lạc vào chính thời đại này. Xưa kia, cha ông ta chưa bao giờ tự đem thân mình làm lính đánh thuê như thế. Tổ tiên ta không bị huyễn hoặc bởi những thứ vinh quang kiểu:
"Thành mây sừng sững ngăn sóng đỏ”.
“Chiến sĩ tiền đồn chống Mỹ và phe tư bản thối tha, lịch sử sẽ ghi danh các đồng chí …”
Như thế, cuộc chiến tranh chống Mỹ, với tôi, là cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc. Nó là sự sung đột giữa hai thế lực hiếu chiến, Mỹ một bên, những người cộng sn Việt Nam một bên, cả hai bên đều phải chịu trách nhiệm trước mười triệu linh hồn đau khổ. Những thế hệ tiếp nối cần phải ghi nhớ cuộc chiến tranh này như một lầm lạc gây nhiều tổn thất nhất trong lịch sử dân tộc Việt kể từ buổi khai sinh. Ra khỏi một cuộc chiến tranh như thế, thân tàn lực kiệt. Bởi một dân tộc cũng như một cá thể, chịu những giới hạn về thể chất cũng như tâm thần. Sự huy động nỗ lực kéo dài trong chiến tranh sẽ để lại di chứng trong thời bình, những chịu đựng quá ngưỡng sau một thời gian thường đẩy chủ thể sang trạng thái đối nghịch. Sự tê liệt ý chí, sự ù lì về tinh thần trong xã hội chúng ta hôm nay là sự trả giá cho một thời gian dằng dặc chịu đựng tổn thất và khổ đau. Thêm nữa, một dân tộc chưa vượt khỏi những bức xúc tối thiểu của cái Đói, cái Rét, Nơi trú thân, dân tộc ấy khó có thể có Khát Vọng Tự do và Dân chủ. Đối với đại đa số dân chúng hiện nay những khái niệm về Quyền sống, quyền Công dân, thể chế về giải pháp dân chủ … vẫn là những khái niệm mơ hồ, một thế giới mới lạ, quyến rũ nhưng còn quá xa xôi. Và, do bản tính bảo tồn sự sống, người ta không thể liều thân chiến đấu với cường quyền chỉ để đạt tới một thế giới hứa hẹn nhưng còn ở ngoài tầm tay. Trước tình hình đó, lẽ đương nhiên những người đấu tranh cho Dân chủ ở đất nước ta phải chấp nhận sự lẻ loi và những hy sinh, và Sự lẻ loi này sẽ còn kéo dài. Điều mà chúng ta có thể làm được hiện nay là phá vỡ bức màn huyền thoại Chống Mỹ Cứu nước, là chỉ rõ tính chất tàn bạo của nhà cầm quyền trong vụ án Xét Lại và vạch rõ bản chất cuộc chiến tranh ngu xuẩn đã qua. Khi lá bùa hộ mệnh của chính thể rơi xuống, nó sẽ không còn dám giữ thái độ tàn bạo và ngạo ngược như hiện nay. ở đâu tình cảm và khát vọng lấn lướt, ở đó chân lý câm lặng và huyền thoại nảy sinh. Một khi đám đông nhận thức được rằng họ đã bị lừa, rằng cuộc chiến tranh thần thánh mà kẻ cầm quyền vẫn rêu rao thực chất chỉ là trò trẻ con bị xui ăn cứt gà sáp, và rằng đó là một cuộc dấn thân mù loà vô tích sự mà bài học đắng cay sẽ lưu truyền hậu thế … Khi đó, chính quyền Việt Nam sẽ được lãnh đủ …
Nhưng giờ đây, trước số phận những người cùng đứng trong cuộc đấu tranh, chúng ta không có cách nào hơn là kêu gọi nhân loại tiến bộ ủng hộ. Chúng ta kêu gọi nhân dân Mỹ, một dân tộc có lương tri chính trực và cao cả đã góp phần ngăn chặn cuộc vận hành của cỗ máy xay thịt khổng lồ năm xưa. Tôi hy vọng rằng một nhân dân như thế sẽ giúp đỡ lực lượng dân chủ mong manh đang bị chà sát ở Việt Nam. Một nhân dân như thế sẽ cảm thông được với đau khổ và mất mát của dân tộc chúng ta cho dù giữa con người với con người luôn luôn tồn tại những vực thẳm cách biệt do lịch sử và văn hoá. Chính quyền Việt Nam có thể ngạo mạn với dư luận trong nước, có thể chà đạp tàn bạo những người có ý kiến trái ngược với họ, có thể đổi trắng thay đen, để mà vu cáo vô liêm sỉ một ông già hiền lành cả tin và có phần ngây thơ để mà vào những lời lẽ: Chống tham nhũng của họ, để mà viết đơn xin Lập Hội chống tham nhũng như ông Phạm Quế Dương … Họ có thể làm mọi thứ trong lãnh địa này, trước một đám đông thiếu ý chí, thiếu hiểu biết và khiếp nhược, nhưng chắc chắn họ không thể ngạo mạn với dư luận tiến bộ trên thế giới, họ không thể dối láo hoặc phỉ báng những đối tác có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và sự tồn tại của họ.
Đến Asile cũng còn bị đánh quỵ chỉ vì có gót chân, huống hồ nhà cầm quyền Việt Nam ?… Một chính thể chỉ tồn tại trên hai bệ đỡ: Sự thiếu hiểu biết và sự khiếp nhược của dân chúng.
Tôi cũng xin trở lại với một hiện thực mà ông Claude Allègre đã xác nhận: Dưới cái cớ là dân tộc can đảm này đã chiến thắng các siêu cường quốc, người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi ở đó.
Vâng, sự lãng quên này đã kéo dài ba thập kỷ. Núp trong bóng của lãng quên của những tên tiểu bạo chúa hoành hành trên cõi đất bùn lầy. Máu những người vô tội khô kiệt trong các trại giam. Tên các chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ được nêu lên như các ví dụ để khủng bố dân chúng, một dân chúng vốn đã kiệt sức vì nghèo đói và khiếp nhược … Vì lẽ đó, tôi xin kêu gọi những ai có lương tri hãy bước ra khỏi lãng quên, hãy giúp cho những Phạm Quế Dương, Nguyễn Khắc Toàn, Trần Khuê, Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Đan Quế, Lê Chí Quang, Giáo sư Nguyễn Đình Huy thoát khỏi sự chà đạp của kẻ cầm quyền. Đó là cách tốt nhất để dân tộc Việt Nam có cơ hội nhích thêm vài bước trên con đường đi tới nền dân chủ.
Dương Thu Hương
----- O -----
NGÀY 30.4.1975, MỘT KHÁT VỌNG HOÀ BÌNH BỊ CƯỠNG BỨC !
Nguyen Hai Son
Ngày 30 tháng 4, cách đây tròn hai chín năm, người dân Sài gòn (SG) đổ xô ra đường; một phần muốn thoát khỏi cảnh bức bách, sau nhiều ngày đóng cửa ở trong nhà; một phần vì tò mò, muốn biết chuyện gì đang xãy ra trên đường phố. Họ hoà cùng dòng người, tay vẫy cờ hoa, không ngừng hò reo: "Hết chiến tranh, hòa bình đến rồi!" "Hoan hô hoà bình!". Hoàn toàn không có ai hoan hô quân Giải phóng (chỉ trừ mấy đám Cộng Sản nằm vùng).
Trên các ngã đường, lính Cộng Hoà rã ngủ, vứt bỏ súng ống, quân phục, trên người chỉ còn chiếc quần xà lỏn và áo may-ô, người nào may mắn lắm thì kiếm được bộ áo quần sa-vin đi chân không, chân dép trở về với gia đình. Thật là hạnh phúc sau những ngày cắm trại căng thẳng, chiến đấu cam go, mệt mỏi và mất tinh thần họ trở về trong sự lo lắng và mong đợi của gia đình. Gia đình là nơi che chở nhiệt thành nhất, trong những cơn nguy khốn của một kiếp người.
Sau bao nhiêu năm chiến tranh chết chóc, tàn phế, chia lìa, con người ta tự an ủi mình bằng hai chữ hoà bình. Cái khát vọng hoà bình quá lớn, đến nổi người dân bất chấp ai là người mang hòa bình đến và mang đến bằng phương tiện gì. Và cũng vì khát vọng hòa bình mà người dân không reo hò chống Cộng. Hòa bình là một danh từ trừu tượng, dễ chấp nhận và độ lượng nhất.
Một điều trớ trêu là người dân reo hò hoà bình, trong khi xe tăng đang rầm rầm tiến vào dinh Độc lập và bộ đội cụ Hồ với súng AK lăm lăm trên tay, sẵn sàng nã đạn vào bất cứ những ai cản trở bước tiến quân của họ. Một nền hoà bình đầy cưỡng bức vàđe doạ, một nền hoà bình vừa thức dậy sau bao năm dài chiến tranh và chỉ những người thức thời, mới nắm bắt cơ hội hoà bình trong buổi sáng giao thời hiếm hoi đó. Trong hoàn cảnh như vậy, những ai kêu gọi chiến tranh đều mở một con đường đi vào cỏi chết. Cộng sản (CS) chiếm Ban Mê Thuột không ai hô hào hoà bình, CS vượt qua lá chắn Xuân Lộc cũng không ai đề cập đến hoà bình, hoà bình chỉ được tạo dựng sau lời kêu gọi đầu hàng của tướng Dương Văn Minh (DVM). Nếu không có sự kêu gọi đầu hàng đó, chắc chắn là máu sẽ đổ, thịt sẽ văng và cái thành phố mang tên Bác cũng tan hoang. Như vậy, đầu hàng có nghĩa là hoà bình, còn chống chọi là còn chiến tranh; hoà bình đã làm cho những cái đầu hiếu chiến ở Hà Nội đi từ ngạc nhiên đến vui mừng. Từ ngày đó trở đi, người dân miền Nam viết những dòng đầu tiên trong đơn từ là:
CỘNG HOÀ MIỀN NAM VIỆT NAM
Hoà bình - Trung lập - Thống nhất.
Khát vọng hoà bình là bản năng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam (VN) suốt bốn ngàn năm dựng nước !
Có trời mới biết được tập đoàn Lê Duẩn đã tính toán những gì, sau những lời hò reo hòa bình của dân chúng miền Nam ? Sau một thời gian ngắn ngủi của hoà bình, những người liên quan đến chế độ cũ phải ra trình diện trước Ủy Ban Quân Quản; không có chuyện dùng kềm rút móng tay dài của phụ nữ, không có chuyện chôn sống những người đàn ông như trong dịp Tết Mậu thân, nhưng lại có trại cải tạo tập trung. Đó là nơi rừng thiêng nước độc, đường sá cách trở, khí hậu khắc nghiệt. Đó là nơi được cai quản bởi bọn đầu trâu mặt ngựa, lòng lang dạ sói. Đó là nơi đày đoạ kiếp người cho đến khi tắt thở. Đó là nơi người tù ban ngày phải lao động khổ sai, ban đêm về học chính trị đường lối và chủ trương của Đảng, học những bài giáo huấn của Bác nhằm biến đầu óc con người trở thành những cổ máy u mê. Hai tiếng hoà bình chỉ còn lại trong ký ức của những người tù !
Sau Đại hội Đảng CS lần thứ 4, hai chữ hoà bình cũng biến mất một cách đột ngột như lúc nó xuất hiện vào sáng ngày 30 tháng 4. Thay vào đó, trong đơn từ phải viết là CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Sự thay đổi gây sự ngạc nhiên và khó hiểu cho nhiều người !
Tôn Tử đã từng nói rằng, chiến tranh là việc hệ trọng nhất của quốc gia. Những người lãnh đạo quốc gia khi tiến hành một cuộc chiến tranh, cần phải cân nhắc hết sức kỷ lưỡng, bởi vì chiến tranh tàn phá đất nước, đưa muôn dân vào chổ lửa binh, chết chóc, chiến tranh kéo dài sẽ đưa dân tộc vào chổ suy tàn. Nhưng Cộng sản Việt Nam (CSVN) lại coi chiến tranh là một cứu cánh và theo đuổi chiến tranh bằng mọi giá ? Cuộc chiến tranh nhân dân đã hút kiệt sức của cả một dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến.
CSVN thích so sánh sự đầu hàng của tướng De Castries ở Điện Biên Phủ (ĐBP) và tướng Dương Văn Minh ở SG. Có chuyện kể rằng, trưa ngày 30.4 khi người đại diện quân Bắc Việt tiến vào tiếp quản Dinh Độc lập, sào huyệt của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà:
DVM nói rằng: Tôi ngồi đây, chờ quý Ông đến để bàn giao !
Vị sĩ quan Cách mạng đốp chát lại: Ông còn gì nữa đâu mà để bàn giao ? (Thật là một câu trả lời trịch trượng và láu cá.)
Nếu tôi là DVM, tôi sẽ nói rằng : Có chứ, đó là một khát vọng hoà bình !
Ông De Castries và DVM là tướng lĩnh đã tốt nghiệp trường võ bị Pháp, đã từng lăn lộn trên chiến trường, nên hai ông luôn cân nhắc cái giá phải trả cho một cuộc chiến tranh và ý niệm về sự đầu hàng.
Theo tôi nghĩ, các học viện quân sự nên dạy thêm môn học Đầu hàng; đó là cách giải quyết tốt nhất, trong hoàn cảnh mà các vị chỉ huy không có khả năng chống lại sức mạnh của đối phương, nhằm bảo vệ tính mạng cho binh sĩ và đồng bào, từ đó quay lại việc giải quyết chiến tranh bằng con đường chính trị, cũng như trước đây người ta dùng chiến tranh để giải quyết những vấn đề không thể thương lượng được. Trong cuộc hội thảo Pháp và Việt vừa qua, thì tổn thất nhân mạng của hai bên trong trận Điện Biên Phủ là: 20.000 Việt Minh/ 600 quân Pháp, tỉ lệ 33/1, (tỉ lệ này cho thấy hậu quả của chiến thuật biển người). Việt Minh chết nhiều đến nổi, năm 1956 Ông Hồ đến thăm nghĩa trang ĐBP phải lấy khăn lau nước mắt ! Đây là lần đầu tiên, một phần nhân loại đau thương trông thấy những giọt nước mắt của ông ta.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ. Ông Giáp khuyên thế hệ trẻ hôm nay, nối gót cha anh chiến đấu chống nghèo nàn, lạc hậu. Thật là buồn cười, ông ta làm như cái nghèo nàn, lạc hậu mới xuất hiện ngày hôm qua vậy ? Trong những năm tháng kháng chiến, ông Hồ đã từng nói đến ba thứ giặc; đó là giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. CSVN chỉ lôi kéo toàn dân chống giặc ngoại xâm, còn lại họ coi giặc đói và giặc dốt như một thứ bạn đồng hành, là có nguồn gốc của nó. Giặc ngoại xâm có lẽ là thứ dễ tiêu diệt nhất, còn giặc đói và giặc dốt thì không dễ gì; bởi vậy, những kẻ anh hùng của chủ nghĩa cách mạng là những người thất học hoặc nghèo đói. Võ Thị Sáu mới 13-14 tuổi đã bỏ học làm giao liên, đem lựu đạn ném vào quân Pháp; Nguyễn Văn Trổi mới 10 tuổi, đã bỏ học để vào SG học nghề thợ điện và giác ngộ cách mạng, sau đó đem bom đặt ở cầu Công lý đòi giết Mac Namara; còn chị Út tịch thì đánh giặc, còn cái lai quần cũng đánh !. Do vậy, những ai không muốn học hành, không chí thú làm ăn thì hãy đi theo CS, đó là con đường ngắn nhất để trở thành anh hùng và là con đường dễ dàng nhất để vinh thân phì da và mang lại bổng lộc cho gia đình, dòng tộc.
50 năm qua, lịch sử VN đã chứng minh một điều là xây dựng quốc gia trở nên hùng cường thì khó hơn là xúi giục dân chúng đánh đấm, hy sinh. Dù được che đậy dưới những từ ngữ đẹp đẽ như thế nào chăng nữa, thì tự tìm đến cái chết cũng là sự chọn lựa của những kẻ quẩn trí. Ở miền Nam, những năm 1977-1980 tôi đã từng chứng kiến những người nông dân uống thuốc rầy hoặc treo cổ tự tử chết, vì không chịu đựng nổi sự cùng cực của cuộc sống. Trong hoàn cảnh như vậy, nếu có một kẻ thù nào đó thì họ sẽ lao vào cùng chết với kẻ thù, đó là sự chọn lựa có ý nghĩa nhất để quyên sinh.
Có lẽ, chiến tranh nhân dân đã có từ ngàn xưa, lúc mà con người mới sống thành bộ tộc, người ta dùng sức mạnh của cả một bộ tộc để chống lại sự xâm chiếm và cướp bóc của các bộ tộc khác, người đàn ông khi bước ra khỏi nhà là mang trên mình đủ cung tên, giáo mác; ngày ấy làm gì có quân đội chính quy như bây giờ; cứ hể ai còn sức khỏe, còn leo lên được lưng ngựa bắn tên, thì cứ xông ra chiến trận. Sau này, Mao Trạch Đông đã dùng chiến tranh nhân dân trong cuộc vạn lý trường chinh của mình, để đánh đuổi Tưởng Giới Thạch. Ưu thế của chiến tranh nhân là mỗi người dân là một chiến sĩ, ở đâu có đất ở đó có dân, trận chiến đi đến đâu kêu gọi dân chúng ở nơi đó tham gia chiến tranh, binh sĩ không cần phải mất thời gian huấn luyện và đào tạo; một hình thức phù hợp với chiến tranh nhân dân là phải trường kỳ kháng chiến và sử dụng chiến tranh du kích, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh. Một cuộc chiến tranh như vậy, thì kết cục là dân tộc đó phải chiến thắng hoặc là bị diệt vong.
Trong lịch sữ cũng có những dân tộc đã bị diệt vong dưới vó ngựa của giặc ngoại xâm, nhưng dân tộc VN may mắn không thuộc vào số đó; ngược lại dưới áp lực hàng ngàn năm xâm lược của các vương triều phương Bắc, đã làm con người VN trở nên bất khuất !. Do vậy, nếu có bị thôn tính thì dân tộc VN đã bị đồng hoá bởi các triều đại phong kiến phương Bắc từ lâu rồi, chứ không phải chờ đến người Pháp hay người Mỹ.
Chiến tranh nhân dân cũng để lại quá nhiều nhược điểm, nếu không bị diệt vong sau chiến tranh thì đất nước đó cũng bị tàn phá, con người ở xứ sở đó trở nên hằn học và manh động, chính quyền khó quản lý dân chúng … Con người sống trong xã hội cần phải có những quy tắc, ràng buộc để hạn chế hành động bản năng của họ, nếu không xã hội sẽ loạn; không biết, có phải do ảnh hưởng của chiến tranh nhân dân hay không mà con người VN hôm nay không thích chăm lo học hành, không muốn chí thú làm ăn, nhưng lại thích giải quyết những mâu thuẩn xã hội bằng dao búa, nói nôm na theo kiểu của những người làm Tư pháp là hình sự hoá những quan hệ dân sự ? Một chính phủ đã sai trái, khi lùa hết dân chúng vào một cuộc chiến tranh, bởi vì một cuộc chiến dù kéo dài bao lâu thì cũng có thời hạn của nó, còn mục tiêu của nhà chính trị là phải xây dựng một nền hoà bình ổn định và lâu dài. Chỉ có hoà bình, quốc gia mới có cơ hội xây dựng thành phú quốc, hưng bang được !
Cuộc chiến tranh chống Mỹ xãy ra ngay trên đất miền Nam, hằng ngày dân chúng phải chứng kiến biết bao cảnh bom rơi, đạn lạc, chết chóc, tàn phá. Do vậy, dân miền Nam chẳng thích chiến tranh nhưng họ cũng chẳng thích gì CS; nên khi CS đến, họ phải chào đón bằng phương pháp hoà bình, rồi sau đó có người lẳng lặng khăn gói ra đi … vượt biên. Miền Nam là lãnh thổ duy nhất của 4 nước XHCN còn sót lại hiện nay, mà trước đây đã trải qua chế độ bầu cử dân chủ, do vậy người dân đã có những khái niệm sơ khai về tự do, dân chủ.
Tiếng súng im lặng chưa lâu, thì tháng 12/1978 CSVN xua quân xâm chiếm Campuchia, họ có mưu đồ thực hiện thế giới đại đồng CS. Đảng dạy những bài học chính trị cho thanh niên và bộ đội là phát động chiến tranh ở Campuchia để lôi kéo thế giới vào cuộc chiến tranh thế giới lần III. Họ lý luận rằng, cuộc chiến tranh thế giới lần I đã tạo điều kiện cho việc ra đời Nhà nuớc Xô Viết đầu tiên, cuộc chiến tranh thế giới lần II ra đời hàng loạt nước XHCN ở Đông Âu và cuộc chiến tranh lần này sẽ ra đời hàng loạt nước XHCN ở Nam Mỹ (Nicaragoa), Châu Phi (Mô dăm bich, Aêngola) và Trung Cận Đông (Apganixtan), ép Mỹ vào thế đơn độc; thúc đẩy phong trào CS và tài trợ cho các Đảng CS trong lòng nước Mỹ, Tây Âu để nổi dậy lật đổ chính quyền đương nhiệm. Tham vọng của họ không phải là vừa. Những người yêu chuộng hoà bình không khỏi ngơ ngác với kiểu lý luận đó !
Ai nói rằng CSVN không có tham vọng chiến tranh bành trướng ? VN là một nước nhỏ nhưng tham vọng của những người cai trị không nhỏ. Tháng 2/1979 Đăïng Tiểu Bình tuyên bố với thế giới là muốn dạy cho VN một bài học, bằng một cú dộng từ trên đầu dộng xuống. Một đất nước đang bị cấm vận, một dân tộc đang ăn bo-bo, sắn lát mà phải chịu đựng cả hai cuộc chiến tranh cùng một lúc, thì quả thật phi thường !
Chỉ có những kẻ dại khờ hoặc là a-dua mới tin vào đường lối hoà bình của CS. CSVN không bao giờ muốn hoà bình và không bao giờ đạt được nền hoà bình thật sự !. Họ sợ diễn biến hoà bình còn hơn là sợ tà ma bóng quế.
CSVN thích chơi con bài chiến tranh, những kẻ chơi dao ắt có ngày đứt tay !
Saigon ngày 30/4/2004
----- O -----
Cha con người lính (Ghi theo lời kể của T., Thanh hóa)
Anh bộ đội ấy người Thanh hóa
Từ Căm pu chia về thăm nhà.
Ba-lô bết bụi đường xa
Dừng bên một quán nước trà nghỉ chân.
Mới ba năm
xa nhà
Quê hương anh
sao mà
đổi khác
Cơn gió lạnh thổi về
xao xác
Đàn trẻ gầy
nhao nhác
quanh sân.
Chợt anh bộ đội đăm đăm
Nhìn đứa bé đang cầm chổi quét.
Sao mà giống con anh y hệt
Rồi
nhận ra vết sẹo bên cằm
Anh buột miệng
Gọi con : Thằng Việt !
*
Gọi chủ quán ra sau nhà, anh hỏi:
- Thằng bé quét nhà, con ông đấy ư ?
Chủ quán trước còn ậm ừ
Sau phải nhận ... đã mua ngoài chợ !
... "Tôi, hôm ấy, thương tình người mẹ
Nách bốn con, gánh mớ dây lang.
Dây bán trăm đồng, mà cân gạo tám trăm
Sao đủ cháo ăn cầm hơi được ?
Phải bán con, chị như đứt ruột
Tôi nhận đứa bé con, đưa trước hai nghìn
Hẹn bao giờ có, sẽ cho thêm ..."
*
Anh xin chuộc đứa con
Nhưng túi không đủ tiền.
Người chủ quán không cho
Bảo đã tốn công phu nuôi nấng.
Cực chẳng đã, người cha
Rút súng ...
Rồi,... dắt con đi về hướng ... làng bên.
*
Người lính hôn con
Lệ cha chảy xuống.
Con đòi khẩu súng
Đeo lệch ngang hông
Cha con người lính
Đi qua cánh đồng ...- 1988 -
Hà Sỹ Phu