Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Điện Thư - Số 19
Tháng 4 năm 2004
Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Như đã minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam@yahoo.com
Tin Ghi Nhận:
Sau khi nghe chất vấn, ông Lương đã cười và nói: “Đảng ta khuyến khích đảng viên làm kinh tế, tôi cũng muốn trước khi về hưu, kiếm lấy một chút làm vốn cho vợ con sau này”.
----- O -----
Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam |
Thông Báo Về Phiên Tòa Nguyễn Vũ Bình
Hà Nội/California: Ngày 19 tháng 4 năm 2004 - Câu Lạc Bộ Dân Chủ cho Việt Nam trân trọng thông báo đến các Cơ Quan Báo Chí, Hội Bảo Vệ Nhân Quyền, Hội Ân Xá Quốc Tế, Đồng bào trong và ngoài nước về phiên tòa phúc thẩm xử anh Nguyễn Vũ Bình:
- Phiên tòa phúc thẩm Nguyễn Vũ Bình sẽ được xử ngày 5 tháng 5 năm 2004 tại Tòa Án Hà Nội thay vì ngày 26 tháng 4 năm 2004.
Nam Trần
Câu Lạc Bộ Dân Chủ cho Việt Nam
----- O -----
Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam
Kính gửi: Ông Trần Đức Lương, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam.
Chúng tôi viết thư này gửi tới ông để bày tỏ mối quan ngại về tình trạng sức khoẻ của ông Lê Chí Quang, một người hiện đang bị giam giữ tại trại giam Ba Sao , Hà Nam. Ông Quang đã bị bắt giam chỉ vì đã bày tỏ những suy tư về đất nước. Việc biểu lộ chính kiến không bao giờ có thể bị quy thành tội phạm. Việc bắt giam ông Lê Chí Quang đã vi phạm trắng trợn luật pháp, hiến pháp Việt Nam, vi phạm Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự. Điều không thể chấp nhận được nữa là đã bắt giam một người bệnh thận hư nhiễm mỡ nặng như ông Quang, một căn bệnh có thể lấy đi sinh mạng bất cứ lúc nào, nếu như không được hưởng một chế độ điều trị đặc biệt. Việc giam cầm một người như vậy là một tội ác, rất vô nhân đạo.
Chúng tôi đề nghị ông, và Bộ chính trị Việt Nam, khẩn trương xem xét việc trả lại tự do cho ông Lê Chí Quang.
Hãy biết tôn trọng quyền công dân và phẩm giá của con người.
Xin chân thành cảm ơn.
Hà nội ngày 20 tháng 4 năm 2004.
Trần Hoàng Lê
Uỷ ban vận động tự do cho tù nhân chinh trị tại Việt Nam
----- O -----
Hà Nội , 22-4-2004
Tố cáo khẩn cấp việc bị cáo nhà báo Vũ Bình bị ngược đãi tại nhà giam Hoả Lò Mới. - Hoàng Minh Chính, Bào Chữa Viên
"Lương tâm con người lương thiện không cho phép làm ngơ trước các cảnh đàn áp phi pháp, vô lương tâm, phản dân chủ, phi nhân tính trắng trợn đến như vậy. Nhà nhân văn nói : Con người khác con vật ở chỗ không chỉ biết lo chau chuốt cho bộ lông của mình mà còn có tình thương đối với đồng loại. Kẻ nào im lặng trước tội ác là kẻ đồng loã."
Dư luận rộng rãi trong nước và quốc tế đều biết bị cáo nhà báo Vũ Bình bị vu cáo là Gián điệp và bị toà án so thẩm Tp Hà Nội ngày 31-12-2003 xử phạt 7 năm tù và 3 năm quản chế. Liền sau đó bị cáo Vũ Bình đã kháng án. Tôi là Bào Chữa Viên hợp pháp của bị cáo Vũ Bình tại phiên toà so thẩm và tại phiên toà phúc thẩm sẽ họp ngày 5/5/2004, khẩn thiết tố cáo việc nhà báo bị cáo Vũ Bình đang bị ngược đãi phi pháp tại nhà giam Hoả Lò Mới như sau.
Theo đúng Bộ Luật Tố tụng hình sự, Điều 9 quy định :“Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật".Từ Điều luật này cần phi hiểu rõ 2 yếu tố co bản như sau:
1/ Bản án của Toà So thẩm chưa có hiệu lực phâp luật vì bị cáo chống án, thì còn phải chờ Toà án Phúc thẩm tối cao xét xử – như trong trường hợp bị cáo nhà báo Vũ Bình đã kháng án và đang chờ ra Toà Phúc thẩm tối cao sẽ họp ngày 5/5/2004.
2/ Như vậy, theo đúng Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Vũ Bình vẫn là người vô tội khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật. Do đó, ông Vũ Bình đáng lý được hưởng mọi quyền của công dân như : được phép nhận sách báo của gia đình, được nhận tiền gia đình gửi để mua thực phẩm, được phép gặp vợ con họ hàng bạn hữu, được nhận những vật dụng tối thiểu cho sự sống, v.v... của gia đình gửi tới nhà giam – chỉ trừ mỗi điều là không được rời khỏi noi giam giữ. Nhưng tất cả các quyền hợp pháp như kể trên, ông Vũ Bình bị co quan CA và Ban lãnh đạo trại giam Hoả Lò Mới (là noi đang giam giữ ông Vũ Bình) tước bỏ hoàn toàn mà lại giam giữ hành xử với bị cáo chính trị Vũ Bình theo chế độ tù nhân hình sự trọng án.
Như vậy rõ ràng đây là một sự vi phạm trắng trợn luật pháp nhà nước và là một hình phạt phi pháp, giã man đối với bị cáo nhà báo Vũ Bình đang vẫn là người vô tội theo đúng luật pháp và đang chờ phiên toà Phúc thẩm tối cao.
Cần dẫn chứng thêm rằng, theo Tuyên Ngôn Thế Giới Về Nhân Quyền (LHQ), điều 11-1/ Quy định : “Mọi người bị buộc tội có hành vi phạm tội được coi là vô tội cho đến khi sự phạm tội của người đó được xác định một cách hợp pháp trong một vụ xét xử công khai, trong đó có những sự bảo đảm cần thiết cho việc bào chữa của người đó”. Công ước Quốc tế về các Quyền Chính trị và Dân sự (Việt Nam gia nhập 24-9-1982 ), Điều 14-2/ Quy định : “ Người bị buộc là phạm một tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật”. Nhất là Hiến pháp Việt Nam điều 72 cũng ghi rõ : "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật". Tuy nhiên các co quan CA, Viện kiểm sát và Trại giam chẳng cần đếm xỉa tới các luật pháp trong nước và quốc tế đó, họ tuỳ tiện hành xử tồi tệ, hoàn toàn trái pháp luật với bị cáo chính trị Vũ Bình chưa thành án.
Tôi đã tìm hiểu về tình hình giam cầm bị cáo nhà báo Vũ Bình qua việc hỏi chuyện bà Bùi Thị Kim Ngân vợ nhà báo Vũ Bình và bằng con đường điều tra riêng, tôi được biết tình cảnh bi thảm như sau. Ông Vũ Bình, nhà hoạt động chính trị trẻ tuổi tiếng tăm trong nưoc và quốc tế, bị giam tại nhà tù Hoả Lò Mới tại Cầu Diễn, là noi giam giữ những tù nhân phạm các tội hình sự trọng án như cướp đoạt tài sản Nhà nước, cướp bóc giết người, buôn bán ma tuý, và các trọng tội khác. Nhà báo Vũ Bình bị giam cùng 2 tù nhân hình sự trọng án nhằm để theo dõi nghặt nghèo nhất cử nhất động của Ông. Nếu như ở nhà giam B 14, bị cáo khác được nhận tiền của gia đình để mua những thứ mình cần, được phép gia đình tới thăm vài lần trong tháng, được nhận các thức ăn uống do gia đình mang tới, và những người thân vào thăm bị cáo được trực tiếp ngồi với nhau chuyện trò trong vòng một giờ, thì ở nhà giam Hoả Lò Mới bị cáo Vũ Bình bị tước bỏ không được hưởng những điều như vậy, và hiện đang trong tình cảnh đối xử tồi tệ nhất như sau.
Mỗi tháng bà Buì Thị Kim Ngân chỉ được phép tới thăm chồng nhà báo Vũ Bình một lần. Khi thăm vợ chồng không được trực tiếp ngồi chuyện trò, mà phải nói qua fôn cách xa nhau bởi hai bức tường bằng kính giầy, chỉ được nhìn thấy nhau thôi. Mỗi lần như vậy có tới 15 người của các gia đình phạm nhân khác cùng vào thăm một lượt tại vòng tròn một nhà kính và chỉ được nói chuyện qua fôn chừng 15 phút. Sự cách ly bằng tường kính là đòn đánh độc ác vào tình cảm và lòng tự trọng con người. Gia đình không được phép mang từ nhà tới gửi bất kỳ thức ăn đồ uống gì, mà nhất thiết đều phải mua ngay tại cửa hàng của nhà giam. Các thức ăn đồ uống mua tại nhà giam đó chỉ được phép đựng vào túi nylon chứ không được đựng bằng bát đĩa chai nhựa, vì vậy rất khó giữ và dễ bị thiu hỏng, chỉ dùng nội nhật hai ngày là cùng. Bị cáo Vũ Bình lại không được phép nhận tiền cuả gia đình gửi nên suốt tháng chỉ trông vào hai bữa com tù gồm có vài gắp rau luộc chấm nước muối và com hai bát. Sống giam hãm thiếu thốn trăm bề, khổ cực tách biệt với thế giới bên ngoài như vậy suốt tháng suốt năm, như giam trong nhà mồ thì con người không khỏi đâm ốm đau bệnh tật, mụ mẫm, mất trí, thậm chí đâm phát điên như các nhà y học-tâm sinh lý học trên thế giới nhận xét. Có lần CA Viên nói thẳng với bà Bùi Thị Kim Ngân rằng " Bị cáo Vũ Bình vì bướng bỉnh nên không được gặp vợ con”- từ “bướng bỉnh” đồng nghĩa với “không chịu nhận các tội lỗi do Viện kiểm sát áp đặt”.
Tôi xin chi nêu vài dẫn chứng so sánh với vài loại nhà tù khác trên thế giới để thấy tính nhân đạo của nhà tù dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như thế nào. Tại nước Đức Quốc Xã trong Thế chiến II, phát xít Hitle trong khi phải đưong đầu với quân Đồng minh, thì trong nước phải đối phó với cuộc phản chiến chống đối phá hoại của Đảng CS Đức. Bàn tay sắt Hítle cho lập các nhà tù kiên cố khắc nghiệt giam giữ các đảng viên CS chống đối. Quyển sách nhan đề “ Hồi ký của Bà vợ lãnh tụ Đảng CS Đức Ernest Tallman và các chiến hữu ” xuất bản năm 1953 bởi NXBCTQG ở Đông Đức dầy 500 trang khổ lớn, tiếng Đức kể lại cuộc sống của các chiến sĩ CS Đức tại nhà tù phát xít Đức. Tôi xin tóm lược vài điều : "Trong thế chiến 1941-1945, Hitle giam giữ lãnh tụ CS Đức E.Tallmam và các cán bộ CS Đức quan trọng tại một nhà tù cao tầng kiên cố canh giữ cực kỳ cẩn mật. Nhà tù này có một bệnh viện gồm 4 khoa như các khoa: nội, răng hàm mặt, thần kinh, X quang. Mỗi tuần các tù nhân chưa thành án hoặc đã có án đều được khai bệnh và đi khám bệnh 2 lần mỗi tuần, đứng xếp hàng trước phòng khám vào lần lượt. Chúng tôi tù nhân CS lợi dụng lúc đó để thông tin cho nhau về mọi tình hình trong nước và quốc tế. Đc Tallman cũng lợi dụng những dịp đó khai bệnh tới đứng cùng chúng tôi và nhất là những lần vào nhà tắm công cộng tại nhà tù này, mỗi tuần được tắm một lần, cứ 10-15 người vào một phòng tắm trong 30 phút tắm đồng thời lợi dụng thông tin cho nhau. Nhà tù này có một thư viện, các tù nhân được phép mượn sách báo xem, chỉ được mượn sách báo ấn hành trong nước khá đủ các loại, nhưng không được phép mượn sách báo ấn hành ở nước ngoài. Mỗi tuần tù nhân được đi dạo dưới sân rộng 2 lần, mỗi lần 15 phút. v.v...” Còn các đảng viên CS và các các cán bộ đảng loại thấp thì bị giam giữ cả ngàn người tại từng "Trại tập trung" trong mỗi khu đất rộng chừng vài hecta có giây thép gai bao quanh. Các tù nhân này được giao làm các loại công việc chân tay và được tự quản. “ Chúng tôi được mang nhạc cụ vào trại chi trong giờ rỗi rãi, thậm chí chúng tôi còn lập cả một đội kèn tây gồm cả chục nhạc công và cả trompettes." Khoảng cuối năm 1943 thì E.Tallman bị thủ tiêu theo lệnh của Hitle. "Được tin này đội kèn tây chúng tôi báo cho toàn Trại biết và cử một bài nhạc truy điệu Đc E.Tallman và cả Trại đứng nghiêm một phủt mặc niệm." Tôi trích dù chỉ vài thông tin như vậy để thấy rằng ngay đối với kẻ thù không đội trời chung là các đảng viên CS Đức thì phát xít Hitle vẫn có một chính sách đối xử nhẹ nhàng vì cùng một dòng máu, một cội nguồn, chứ không dại dột, táng tận lưng tâm “ đào tận gốc, trốc tận rễ", chu di tam tộc, diệt kỳ hết như kiểu Chuyên Chính vô sản trừng trị những đảng viên bất đồng quan điểm.
Tôi xin dẫn chứng một thí dụ nữa để ta suy ngẫm. Tại Cuba, ngày 10-3-1952 Thượng Nghị sĩ Phun-gien-xio Batixta làm cuộc đảo chính cướp chính quyền, lật đổ Tổng thống Carlôt Prio, bắt đầu một trang sử tàn bạo nhất tại hòn đảo Cuba. Ngày 26-7-1953 Luật sư Phiden Caxtrô dẫn đầu 125 du kích quân tấn công trại lính Môncada, chiến đấu ác liệt và bị thất bại. Phiden Caxtro cùng vài chục chiến hữu bị bắt sống và giam tập trung tại một một nhà tù được canh giữ cực kỳ cẩn mật. Các trí thức và học sinh sinh viên có tư tưởng tiến bộ kéo nhau tới nhà tù đòi được vào thăm những du kích quân cùng Ls Phiden Caxtrô. Sau nhiều lần đòi hỏi các nhà trí thức và sinh viên học sinh được phép vào thăm. Trích sách nhan đề “ Nhà tù là trường học " của NXBST-HN-1983, kể về cuộc sống của P.Caxtro và các chiến hữu trong nhà tù dưới thời độc tài chuyên chế của bạo chúa Batixta. “ Có từng đoàn trí thức cấp tiến và sinh viên dân chủ xin phép được vào thăm, họ mang vào rất nhiều sách báo đủ các loại và các thứ tiếng, và đề nghị cần những loại gì họ sẽ cung cấp đầy đủ. Họ còn mang vào tặng nhiều hoa quả và các bánh trái, các thức ăn đồ uông, dù từ chối mấy họ cũng cứ để lại. Rồi một hôm họ khuân vào nhà tù một cái tủ lạnh to đùng để bảo quản thức ăn và hoa quả được lâu. Các thân nhân ruột thịt, họ hàng bạn hữu của các tù nhân này dù họ chưa ra toà xét xử vẫn được vào thăm tự do và tha hồ mang vào mọi thứ. Vì vậy đời sống vật chất của các tù nhân này được thoả mãn đầy đủ. P.Caxtro tổ chức học tập văn hoá và khoa học cho các chiến hữu ngay trong nhà tù theo thời khắc biểu nhất định. Ngoài giờ học thì tập thể thao, đánh bóng bàn, bóng truyền, v.v... Riêng P.Caxtro thì được ăn chế độ đặc biệt như : bữa sáng một tách cafe và một điếu xì gà, bữa trưa một đĩa mì ống ý, một miếng bít tết, một tách cafe và một điếu xì gà. Bữa tối cũng được dọn ăn như bữa trưa. Những cuộc gặp các trí thức cấp tiến và các sinh viên vào nhà tù thăm hỏi, P.Caxtro và các chiến hữu được tự do đàm đạo, trao đổi tranh luận với mọi người thoải mái không hề có sự can thiệp, nhắc nhở gì từ ban cai quản nhà tù. Cả năm trời sống trong nhà tù tự do như vậy nên P.Caxtro có thời gian và điều kiện vật chất, tinh thần và tư liệu được cung cấp từ mọi phía để viết bài tự bào chữa tối ưu. Bài Bào chữa của Phiden Caxtro cả về hình thức, nội dung, lời văn và khẩu khí thực chất là một Bản Cáo Trạng dài 126 trang lên án công khai quyết liệt với những lời lẽ mạt sát trực diện đập vào mặt Batixta và chế độ chính trị đưong thời mà cả các quan toà vẫn lặng yên ngồi nghe không hề ngăn trở. Tôi xin trích đôi đoạn:
“ Thưa các ông thẩm phán,
" Chưa bao giờ một luật sư lại phải hành nghề trong những điều kiện khó khăn đến như thế này. Trong vụ án này, bị cáo và luật sư chỉ là một .... Ai tin vào những lời nói của Batixta, -tên đôc tài càng vưon lên bỉ ổi và kiêu căng hon bao giờ hết, - dù chỉ tin trong một phủt thôi, cũng đủ làm cho mọi người có lưong tri nghiêm túc phải tủi hổ và hối hận suốt đời ... Các ông nghĩ rằng lúc này các ông đang xét xử một bị cáo, nhưng rồi lại đến lượt các ông bị xét xử, không phải chỉ một lần mà nhiều, nhiều lần ...
" Thưa các quan toà, quyền kháng cự chống lại chủ nghĩa chuyên chế độc tài đã được thừa nhận từ thời trung cổ xa xưa cho đến tận ngày nay bởi những người của tất cả các loại học thuyết, của cả các loại tín ngưỡng ... Làm sao có thể chứng minh sự có mặt của Batixta ở chính quyền là đúng được ? Làm sao có thể chứng minh cho một chế độ của máu, của áp bức và của những sự vô liêm sỉ là đúng đắn được ?...”
Câu truyện kể trên đòi hỏi một sự giải thích – tại sao có thể có một phiên toà dân chủ nhường vậy dưới một chế độ độc tài chuyên chế ? Chỉ vì Batixta ranh ma cáo già hiểu rằng phải dùng hình thái toà án dân chủ tư sản Âu-Mỹ mới chứng minh được các tội lỗi kết án là công minh, công khai, dân chủ không hề lén lút áp đặt.
Còn các phiên toà xét xử ở nước ta thì không giám công khai, lén lút, sợ công luận như gioi sợ ánh sáng mặt trời. Các vụ xử các nhà Dân chủ thời gian qua đã là minh chứng hùng hồn về điều đó rồi.
Xét đến tình hình giam giữ các tù nhân chính trị có án cũng như các bị cáo chính trị đang bị giam cầm tại nhà tù nước nhà mà đem đối chiếu với hai cảnh nhà tù vừa kể trên thì đủ thấy thật đáng xấu hổ và đau lòng xiết bao.
Nhà tù XHCN Việt Nam giam cầm những nhà trí thức trể ưu tú nổi tiếng trong nước và quốc tế như Nhà báo Vũ Bình, Bs-Thạc sỹ Phạm Hồng Son, Luật sư Lê Chí Quang, Nhà giáo CCB Nguyễn Khắc Toàn, và các nhà trí thức CMLT tiếng tăm trong nước và trên quốc tế như Đại tá-nhà báo Phạm Quế Dưong, Gs-nhà nghiên cứu Trần Khuê, Bs Nguyễn Đan Quế, Gs Nguyễn Đình Huy, v.v... trong tình cảnh nhà tù vô cùng khốc liệt.
Đại tá Phạm Quế Dưong bị giam đằng đẵng 15 tháng giời, phải hoãn xét xử đã 5 lần rồi, Ông bị nhiều bệnh mãn tính, kể cả bệnh tim mạch nặng, đã hai lần bị ngất trong trong nhà tù vì bệnh tim quá tải. Thứ bảy vừa rồi 17-4-2004 bà Đỗ Thị Cư vợ ông được vào thăm thấy Ông bị gầy hẳn và xanh xao, xút cân trông thấy. Ông vừa nhận được bản cáo trạng bị sửa đổi tới lần thư 3, trong đó có nhiều điều Viện KS bổ sung vào nhiều điều sai trái, phi pháp hon bản trước làm Ông rất phẫn nộ. Ông lại không có giấy bút để ghi các điều cần phản bác Cáo trạng. Tình trạng Ông Quế Dưong rất đáng lo ngại.
Tình hình sức khoẻ của Ls Lê Chí Quang ngày càng xa xút, gầy rộc xanh xao, lẳng khẳng không chắc có sống nổi tới ngày về không vì bệnh viêm thận nặng không thuốc men kịp thời, sống trong cảnh dồn ép tâm lý tại noi rừng thiêng nước độc. Nhà tù Ba Sao là noi để giam tù nhân trọng án nguy hiểm và cũng để giam những tù nhân bị phạt từ các nhà tù khác chuyển tới.
Nhà giáo CCB Nguyễn Khẵc Toàn cũng bị giam tại nhà tù Ba Sao cùng với Ls Lê Chí Quang, nhưng bị tách đưa đi biệt giam 3 tháng và bị cùm chân vào cùm sắt gộc chỉ vì tội lỗi là thấy những tù nhân người Thượng- khoảng chừng 50 người cùng bị giam cầm- thấy họ quá nghèo khổ mà vì ăn đói phải mua thêm mì ăn liền ăn cho đỡ đói nhưng nhà tù lại bán với giá đắt gấp 30-40 % so với giá bên ngoài. Ông Khắc Toàn động lòng trắc ẩn liền nói mồm với lãnh đạo nhà tù xin đề nghị nhà tù bán bớt nhẹ giá cho những người tù Thượng kia. Thế là lập tức ông Khắc Toàn bị bắt đưa đi biệt giam 3 tháng xà lim và bị cùm chân. Con người không được phép có tình người là điều Nhà giáo Kắc Toàn chưa hề được biết trong cuộc đời nên phải trả giá đắt. Nhà giáo Khắc Toàn còn có thêm một trọng tội nữa là suốt hai phiên toà so thẩm và phúc thẩm lại " ngoan cố " kiên quyết hùng hồn với đầy đủ chứng cứ pháp lý vững vàng phản bác các lời buộc tội của các quan toà làm cho Hội đồng Xét xử đâm lúng túng như gà mắc tóc. Đã thế vào nhà tù vẫn kiên quyết khẳng định là mình vô tội bị oan khiên. Như vậy là dù bị Toà xử tội oan thì vào tù rồi cứ phải khen là Toà sáng suốt xử đúng tội thì mới được coi là chịu cải tạo. Than ôi Công lý XHCN !!!
Gs Trần Khuê bị giam từ 28-12-2002 tới nay đã hon 15 tháng trời. Vào tháng cuối năm 2003 gia đình còn được vào thăm, nhưng từ ngày 28 tết Gíap Thân, tức từ ngày 19 tháng 1 năm 2004 trở đi gia đình ông Trần Khuê không được vào thăm hỏi gì cả vì CA tuyên bố rằng bị cáo Trần Khuê " bướng bỉnh, không chịu nhận bất kỳ tội lỗi gì cả !" cho nên bị phạt không cho gia đình tới thăm. Như vậy thật rõ ràng nhà giam là trợ thủ đắc lực nhất cho Viện KS và Toà án áp đặt các bị cáo phải nhận tội khống trước khi đưa ra xét sử trước toà án. Điều đó cũng giống hệt như Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ưong đã công bố Bản Cáo Trạng do Ban TTVHTW thảo sẵn khép " tội là Gían điệp theo điều 80 Bộ Luật hình sự ” đối với các bị cáo Trần Khuê và Phạm Quế Dưong được đăng tải trên Tạp chí tháng 2-2003 của Ban TT-VH Trung ưong đầy hai trang 20-21 khổ lớn dưới đầu đề “THÔNG BáO về những hoạt động vi phạm pháp luật của Phạm Quế Dưong và Trần Khuê ". Chẳng cần đợi phiên toà xét xử, cách làm việc như vậy là thuộc tính thường nhật của Ban TTVHTW theo đường lối lãnh đạo Tư tưởng và Chính trị đối với các co quan thông tấn báo chí và nay vưon sang lãnh đạo cả bên pháp chế Toà án Nhà nước. Từ đó thấy rằng lâu nay dư luận trong nước và quốc tế đều nhận xét chính xác rằng "Toà án CHXHCNVN xét xử các vụ án chính trị chỉ là thủ thuật để hợp pháp hoá các bản án đã được quyết định từ trước phiên toà rồi ".
Trước tình hình pháp chế Nhà nước như vậy thì những án oan sai của các phiên toà xử các nhà Dân Chủ cũng như với các tôn giáo và sắc tộc là điều cầm chắc.
Các án oan sai đối với các nhà Dân Chủ bị toà vu cáo là Gían điệp như với Bs Phạm Hồng Son, Nhà giáo Nguyễn Khắc Toàn, Nhà báo Vũ Bình, và các án tù hoàn toàn vô căn cứ, trái pháp luật đối với Ls Lê Chí Quang, nhà CMLT- CCB Trần Dũng Tiến. Các vụ truy chụp là Gían điệp sắp đưa ra xử đối với các nhà Dân Chủ như Đại tá-nhà báo Phạm Quế Dưong, Gs-nhà nghiên cứu Hán nôm Trần Khuê, Bs Nguyễn Đan Quế, Nhà báo Nguyến Vũ Bình (xử Phúc thẩm). Tất cả các vụ áp đặt phi pháp, trái đạo lý nhân văn, khép tội lấy được như trên đang làm nhức nhối tất cả những ai có lưong tri trong sáng trong nước, đồng bào hải ngoại cũng như mọi người lưong thiện trên thế giới.
Dư luận trong nước rất cảm kích trước những bản Tuyên bố của các Chính phủ và các Quốc hội các nước Hoa kỳ, EU, Đức, Bắc Âu, v.v... và của các Tổ chức Nhân quyền, Dân chủ, các Tổ Chức Phi Chính Phủ (NGO), và các Vị nhân danh cá nhân yêu chuộng Nhân quyền, Tư do Dân chủ đã lên tiếng mạnh mẽ phê phán Toà án, Chính quyền Việt Nam vi phạm thô bạo Nhân quyền, tự do tôn giáo và sắc tộc, vi phạm các điều luật co bản của Hiến chưong LHQ, Tuyên Ngôn Thế Giới Về Nhân Quyền (LHQ), Công ước quốt tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị (Việt Nam gia nhập ngày 24-9-1982) và các ký kết với các Nhà nước về Nhân quyền mà Việt Nam đều vi phạm.
Đã nhiều tháng năm các tù nhân lưng tâm vô tội đang phải hy sinh cuộc đời vô giá trong nhà tù khốc liệt; các nhà Dân Chủ bị cáo, áp đặt là Gían Điệp, đang bị hành hạ thân thể, tình cảm và tinh thần trong nhà giam đợi ngày ra Toà. Các bà vợ và các con tho cùng các người thân ruột thịt của các nhà Dân Chủ đó đều quên ăn quên ngủ lo ngày đêm dành lại cuộc sống tự do cho người thân oan khuất.
Lưong tâm con người lưong thiện không cho phép làm ngo trước các cảnh đàn áp phi pháp, vô lưong tâm, phản dân chủ, phi nhân tính trắng trợn đến như vậy. Nhà nhân văn nói : Con người khác con vật ở chỗ không chỉ biết lo chau chuốt cho bộ lông của mình mà còn có tình thưong đối với đồng loại. Kẻ nào im lặng trước tội ác là kẻ đồng loã.
Phải trả tự do vô điều kiện cho tất cả các nhà Dân chủ trẻ tuổi tài năng ưu tú : Nhà báo Vũ Bình, Bs-Thạc sỹ Phạm Hồng Son, Ls Lê Chí Quang, Nhà giáo Nguyễn Khắc Toàn, và các nhà Dân Chủ lão thành, chân chính đáng kính : Đại tá-nhà báo Phạm Quế Dưong, Gs-nhà văn Trần Khuê, Bs Nguyễn Đan Quế, Gs Nguyễn Đình Huy và tất cả các nhà Dân Chủ và Chức sắc tôn giáo đang bị quản chế dưới mọi hình thức. Phải cải thiện ngay chế độ nhà tù theo Các Nguyên tắc Nhân bản đã được LHQ và Các Công ước Quốc tế quy định mà Việt Nam đã tham gia ký kết và phải được kiểm chứng bởi Uỷ ban Nhân quyền LHQ. Đó là những yêu cầu chính đáng, hợp pháp, khẩn cấp của đông đảo dư luận trong nước, Việt kiều hải ngoại và các Tổ chức Nhân quyền Dân chủ trên thế giới.
Với tư cách Bào Chữa Viên hợp pháp của bị cáo Nhà báo Vũ Bình đang bị giam cầm và đối xử phi pháp, tàn bạo, tôi yêu cầu Viện Kiểm sát, CA và Ban quản trị nhà tù Hoả Lò Mới phải tôn trọng Điều 72 –Hiến pháp, và Điều 9 –Bộ Luật tố tụng hình sự đã quy định rõ ràng "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật."
Hoàng Minh Chính
Bào Chữa Viên hợp pháp của bị cáo Nhà báo Nguyễn Vũ Bình
ĐC : 26 Lý Thường Kiệt, Hà Nội
ĐTDĐ : 0912.717 996
Nơi nhận:
- Các cấp lãnh đạo Đảng-Nhà nước
- Viện KSTC, Bộ CA, Ban quản trị nhà tù Hoả Lò Mới
- Các cơ quan thông tấn báo chí
- Các gia đình các nhà Dân Chủ bị hại
- Các bạn hữu và những ai quan tâm
----- O -----
LTS. Đặng Quốc Bảo là một trong những sĩ quan cấp cao trong Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Sinh năm 1928, là em ruột nhà cách mạng nổi tiếng Đặng Xuân Thiều, anh em họ với cố Tổng bí thư Trường Chinh. Trong Đại hội IV Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, ông được bầu làm bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn (1980), từng là uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN 2 khoá IV và V, phụ trách công việc tuyên huấn. Sau này nghỉ hưu với cấp hàm Trung tuớng ... Theo những bè bạn của ông, Đặng Quốc Bảo là một người hay có suy nghĩ táo bạo, nhưng không có gan nói ra những suy nghĩ ấy. Trong thời gian uỷ viên Trung ương Trần Xuân Bách đưa ra những đề xuất cải cách chính trị rất mạnh bạo trong sinh hoạt Đảng cũng như trong thể chế xã hội để rồi bị phế truất, dư luận nội bộ Đảng cho biết rằng đứng đàng sau những ý kiến ấy chính là Đặng Quốc Bảo. Bài phát biểu mới nhất của ông không có bản viết tay, bản này là ghi lại từ băng ghi âm, chưa được tác giả duyệt lại, nhưng có thể tin được là nó đã được ghi trung thực, để thấy phần nào những chuyển biến theo hướng tích cực trong thành phần những đảng viên kỳ cựu trong ĐCSVN.
Bài nói Đặng Quốc Bảo
Về Xây dựng Đảng ngày 18 tháng 7 năm 2003 tại 56B Quốc Tử Giám
Thưa các đồng chí thân mến!
Tôi có nhận được thông báo của đồng chí Kỳ cho phép phát biểu.
Tôi suy nghĩ rất nhiều.
Thứ nhất là không biết các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng đã sẵn sàng nghe chưa ? Sẵn sàng xử lý các vấn đề chưa ? Tôi nhìn qua Đại hội 9 thì tôi thấy cách xử lý là về mặt chiến thuật, chứ chưa xử lý những vấn đề về chiến lược, đặc biệt là những vấn đề thuộc về quan niệm. Các vấn đề chiến thuật tức là tìm các biện pháp để ứng phó với tình hình hiện nay, thấy có một sự cố gắng rất nhiều. Nhưng sự cố gắng ấy bị hạn chế bởi 3 trang nói về vấn đề chung. Ba trang về những vấn đề chung đã làm triệt tiêu toàn bộ những sự cố gắng về mặt chiến thuật. Như vậy tôi kết luận: Một Đại hội lớn như thế mà chưa sẵn sàng để đột phá về những vấn đề mà thời đại đặt ra.
Lý do thứ hai: căn cứ vào những theo dõi ngoài phương tiện thông tin đại chúng, thì thấy những bài bình luận, chưa thấy dấu hiệu của những tìm tòi. Những sự tìm tòi nằm trong phạm vi chiến thuật nhiều hơn, chứ chưa có dấu hiệu về mặt chiến lược. Những ý kiến mà có đề cập đến thì bị lên án, bị lên án dữ dội. Đó là vấn đề tôi hết sức quan tâm.
Thứ ba là bản thân tôi cũng không phải là nhà lý luận, hoạt động về thực tiễn nhiều, những thông tin về mặt lý luận thì bị lệch, thông tin về tự nhiên nhiều hơn về xã hội. Tôi xuất phát từ dân toán, dân vật lý. Nguyện vọng từ nhỏ cũng là đi theo hướng này. Do nhu cầu hoạt động cho nên đi vào hoạt động thực tiễn và quan tâm đến vấn đề xã hội. Đấy là cái nhược điểm và do nhược điểm thiên về tự nhiên như vậy cho nên nó ảnh hưởng đến tư duy. Vì cái kiểu tư duy toán học, tư duy vật lý thì nó khác tư duy xã hội, nó đòi hỏi luôn luôn có sự chính xác, chuẩn xác. Cách trừu tượng toán học nó khác cách trừu tượng của xã hội. Thí dụ cái mô hình xã hội thì đó là mô hình động.
Tôi có suy nghĩ là có nên phát biểu hay không vì 2 cái đó, tôi phân vân rất nhiều. Đồng chí Kỳ khuyến khích tôi nên phát biểu. Hôm nay tôi xin mạnh bạo. Tôi không có lời phát biểu mang tính cương lĩnh, bởi vì nó quá sức của tôi. Tôi chỉ có nguyện vọng là gợi ý về quan niệm, gợi ý về phương pháp tiếp cận và cũng không đặt vấn đề một cách hệ thống vì chưa chín muồi. Bởi vì nó cần đòi hỏi phải đặt vấn đề nghiên cứu một cách nghiêm túc. Tôi cũng cố gắng suy nghĩ những vấn đề mà theo tôi cho là những vấn đề tâm đắc.
Trước hết phải nói là sự kiện các Đảng cộng sản ra đời ở cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Đó là một sự kiện có một không hai trong lịch sử. Việc Đảng cộng sản ra đời cũng đã có tác dụng làm thức tỉnh nhân loại. Nhân loại hy vọng rằng cuộc khủng hoảng về hướng đi như thế sẽ được giải quyết. Hy vọng này nửa đầu thế kỳ được thoả mãn, nhưng bắt đầu nửa sau của thế kỷ thì thấy nhiều vấn đề thực tế, nó đặt ra thử thách các Đảng cộng sản, những yếu tố của sự thoái hoá bắt đầu xuất hiện. Tổng quát lại giai đoạn mà các Đảng cộng sản lãnh đạo nhân dân đột kích vào chủ nghĩa tư bản để hạn chế mặt tiêu cực phản động của chủ nghĩa tư bản, Việc ấy nói chung là thành công. Kết quả của nó là Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời. Việt Nam thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám và thắng lợi trong 2 cuộc kháng chiến. Đó là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của các Đảng cộng sản và uy tín của Đảng cộng sản rất lớn. Nửa sau thế kỷ 20 những yếu tố của sự khủng hoảng đã xuất hiện và dần dần nó chín muồi, đi tới trạng thái các Đảng cộng sản bị mất quyền lãnh đạo trong việc dẫn dắt nhân dân đi vào tương lai và người ta thất vọng. Hệ thống ấy là hệ thống bị tha hoá. Việt Nam cũng thế. Giai đoạn rực rỡ nhất của Việt Nam, sáng tạo nhất của Đảng ta là giai đoạn bí mật đấu tranh và giai đoạn Cách mạng tháng Tám, lãnh đạo chiến tranh. Đây là sự cống hiến cho đất nước nói riêng, vì lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một lực lượng lãnh đạo đủ sức để tập hợp nhân dân, đủ sức định ra chiến lược, chiến thuật, để có thể đương đầu với chủ nghĩa đế quốc, các loại đế quốc, giành được nền độc lập cho đất nước. Mặc dù trong cái này cũng có nhiều vấn đề chúng ta phải tổng kết để hoàn thiện bài học của chúng ta. Khi bắt đầu vào xây dựng thì nó lộ ra những nhược điểm. Tôi nói cái nhược điểm chung của phong trào cộng sản thế giới cũng như của chúng ta nó thể hiện trên mấy mặt:
Về kinh tế: Phương hướng phát triển kinh tế của chúng ta chưa mang lại hiệu quả. Nó có thể tạo sự chuyển biến ban đầu trong quá trình công nghiệp hoá, giống như người đang bị đói, bây giờ được ăn cháo vào thì nó hồi sinh, nhưng đến độ trưởng thành nào đó trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa tư bản, cần phải tạo ra một năng xuất lao động mới cao hơn thì nó bộc lộ ra những nhược điểm hoàn toàn. Việc thiết kế đường lối để chỉ đạo hoạt động thực tiễn đã rất lúng túng. Tôi cho rằng đó không phải chỉ là hoạt động thực tiễn, mà đó là một sự thử thách của hệ thống học thuyết chúng ta về tương lai, chứ nó không phải chỉ là sai lầm của người lãnh đạo. Và tôi cho là ở nó có sự trục trặc nào đó trong hệ thống học thuyết của chúng ta. Nếu khái quát lại tôi cảm giác rằng phương hướng của chúng ta định hướng cho nhân loại phát triển mang tính ảo; tức là mang tính nguyện vọng nhiều hơn là xuất phát từ thực tế xã hội.
Thứ hai là tính chất vội vã, nóng vội đốt cháy giai đoạn, mà kết quả là nền kinh tế bị suy thoái đi. Nó tạo ra sự khủng hoảng bắt đầu. Tôi cho rằng đánh giá của Kornai là cái đánh giá rất đáng để chúng ta nghiên cứu. Có thể tóm tắt cái đánh giá như thế này: những tư tưởng cổ điển về chủ nghĩa xã hội nếu mang áp dụng vào thực tiễn thì không hợp.
Nó có thể mang lại sự phát triển nhất định, nhưng không mang lại triển vọng một cách cơ bản và lâu dài. Cho nên phải đổi mới, phải cải cách. Bản chất của đổi mới, cải cách ấy là phải chỉnh lại hệ thống quan niệm cơ bản. Càng đổi mới, càng cải cách thì lại càng xa rời những nguyên tắc cơ bản đã được xác định từ trước. Hay nói một cách khác, có nghĩa là những quan điểm cơ bản của chúng ta về một xã hội tương lai nó cần phải có sự điều chỉnh. Chúng ta không trách ông Mác, bởi vì công trình của Mác là công trình ở nửa đầu thế kỷ 19. Đến vài chục năm sau của nửa sau thì nó phản ánh tình hình của thế kỷ đó. Các nguyện vọng cũng là chính đáng thôi, đưa ra thể nghiệm ở vào thời điểm đó cũng là tiến bộ. Nhưng chúng ta đang sống ở thế kỷ 20, đã sang thế kỷ 21 rồi. Đây là một thử thách mà chúng ta cần có một cách đột phá mới căn cứ vào thực tiễn. Tôi hết sức lưu ý cái khái niệm của chúng ta là vận dụng chủ nghĩa Mác, mặc dù có thêm là vận dụng sáng tạo. Nhưng theo tôi, chúng ta phải kế tục sự nghiệp của Mác để phát triển lý thuyết ấy ở một trình độ cho phù hợp. Bởi vì Mác sinh ra từ thế kỷ trước, cách đây hơn 1 thế kỷ. Bây giờ đưa kết luận của thế kỷ 19 để dẫn đường cho thế kỷ 21, cái điều này nên xem lại, không dừng lại ở khái niệm vận dụng mà có sự phát triển. Tôi xin lưu ý như thế này: các quan niệm của chúng ta về một học thuyết, đặc biệt có trao đổi với giới khoa học kể cả ở trong nước và ngoài nước, đưa kết luận như thế này: Tương lai là bất định, khám phá tương lai là cả một chuỗi hoạt động không bao giờ ngừng. Loài người sáng tạo nên lý thuyết để có thể hiểu tương lai ở một thời điểm nào đó, rồi lý thuyết ấy nó lạc hậu đi. Phải đột phá để nâng nó lên một trình độ mới, hoặc tìm ra một lý thuyết thay đổi nó. Trước kia ta cho rằng cái khoa học nó hoạt động, nó sáng tạo ra nền tảng, nền móng rồi cứ bổ sung thôi. Nhưng vào thế kỷ 21 thì người ta kết luận rằng không phải cái nền móng. Những sự phát triển của khoa học nó cho phép thay đổi tận gốc cái nền móng. Về triết học mà nói như công trình của thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 chưa thoát khỏi hệ thức của Niu-tơn. Tức là ít nhiều nó mang tính mécanique, mặc dù chúng ta gọi là biện chứng, biện chứng mécanique. Vào thế kỷ 20 nó xuất hiện 2 thành tựu của loài người: một là thành tựu cơ học lượng tử, thứ 2 là lý thuyết tương đối Anhstanh. Cơ học lượng từ tức là một khoa học đi sâu vào vật chất ở trình độ nhỏ nhất, bản chất nhất. Thuyết tương đối nghiên cứu những phương diện rộng lớn nhất. Hai thành tựu này tạo nên cơ sở trong hệ thức mới, vượt lên trên hệ thức của Niu-tơn, nó không bác bỏ Niu-tơn, nhưng Niu-tơn chỉ có giá trị ở những điều kiện nhất định. Còn những vấn đề mới nó phát triển cao hơn rất nhiều; nó bổ sung rất nhiều. Tất nhiên đây cũng chưa phải là đỉnh cao, bởi vì hai hướng này cũng có những hạn chế của nó. Cơ học lượng tử lại có những cái mâu thuẫn với Lý thuyết tương đối. Nhưng mỗi lý thuyết lại được loài người dùng trong từng trường hợp cụ thể nhất định. Hiện nay đây là cái khủng hoảng của vật lý lý thuyết vì chưa có những lý thuyết tổng quan. Nếu nói một cách khác thì thế kỷ 20 khác thế kỷ 19 ở chỗ nào và thế kỷ 21 khoa học phát triển khác ở đâu. Thế kỷ 19 người ta nói là thế kỷ của những nhà hiền triết, bởi vì những nhà bác học mang tính chung; hiểu biết chung nhất đưa ra những kết luận chung và hiểu biết toàn diện.
Sang thế kỷ 20 thì người ta gọi là sự hiểu biết của loài người đi sâu vào nhiều lĩnh vực, hàng ngàn hàng vạn lĩnh vực sâu. Nhưng có nhược điểm càng đi sâu càng tách khoa học đi theo 2 hướng. Nhưng có nhược điểm lớn là khi thâm nhập vào nhau để tìm ra một lý thuyết chung thì lại rất là mờ nhạt. Cho nên thiếu những lý thuyết chung tổng hợp: người ta nói là thế kỷ XX phát triển về các khoa học riêng. Sang thế kỷ XXI có lẽ phải khắc phục nhược điểm này của nhân loại. Vì vậy ở Mỹ đưa ra một hệ thống quan điểm mới, nó không phải là một cái thuần chủng khoa học bằng lôgíc. Bên cạnh cái lôgíc ấy nó có xúc cảm. Vì vậy nó đòi hỏi giới khoa học phải có tính toàn diện về mặt khoa học tự nhiên, về mặt khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội. Về khoa học tự nhiên họ lưu ý đến vai trò của toán và lý. Về kỹ thuật họ lưu ý đến 2 cái kỹ thuật: một là công nghệ thông tin; hai là công nghệ sinh học. Về mặt xã hội họ lưu ý đến: một là vai trò của triết học, hai là kinh tế, lịch sử và luật pháp. Mỗi nhà khoa học phải có kiến thức khoa học toàn diện hơn và cái cấu trúc khoa học phải có sự hợp tác giữa các ngành thì mới tìm được một lý thuyết chung. Tôi muốn lưu ý như thế này, bản thân chúng ta dừng lại ở thành tựu ở thế kỷ 19 và Mác đại diện của thế kỷ này. Chúng ta sống ở thế kỷ 21 cho nên phải tổng kết sự phát triển của khoa học của thế kỷ 20 để soi sáng cho những vấn đề của lịch sử đã qua, đồng thời trên cái nền ấy để soi sáng cho vấn đề sắp tới. Tôi xin lưu ý: không có một lý thuyết nào có giá trị vĩnh cửu, không có lý thuyết nào giúp chúng ta trong một lần tạo ra một mô hình tương lai vĩnh cửu, không có. Nhược điểm của chúng ta coi lý thuyết Mác là cái gì vĩnh cửu cao nhất, thì cái đó nó có ảnh hưởng chi phối đến quá trình phát triển hệ quan niệm của chúng ta. ảnh hưởng đến quá trình chúng ta đột phá tới quá trình lịch sử để tìm con đường đi. Vấn đề lớn thứ nhất tôi muốn lưu ý ở điểm này là một đột phá để tìm con đường đi lên phía trước.
Tôi xin nhắc lại: Thông tin khoa học hiện nay phản đối mọi sự tuyệt đối hoá các lý thuyết. Tôi có một thằng cháu học ở Cambridge (Anh). Khi nó vào ông Hiệu trưởng mở một bữa tiệc và mời một số học sinh giỏi nhất đến. Ông chỉ nói một điểm thôi. Ông nói rằng: các em vào đây tức là các em vào một cái trung tâm khoa học sẽ tạo cho các em những điều kiện tiếp cận những thông tin mới nhất về khoa học. Các em sẽ được tiếp xúc với các nhà bác học của thời đại hiện nay về các lĩnh vực có liên quan đến các em, từ lĩnh vực gần đến lĩnh vực xa. Tôi xin lưu ý là không có ai là mẫu mực cho các em hết. Vì thế hệ các em 15,20 năm sau phải thay thế các thế hệ khoa học hiện nay, tiếp tục sự nghiệp của họ và đến thời kỳ các em vào cuộc thì những quan niệm hiện có của các nhà khoa học, mặc dầu đây là những thành tựu mới nhất, sẽ lão hoá. Không một ai là một hình tượng mẫu mực để các em phải theo, các em chỉ tham khảo 2 điều: một là thành tựu của người ta, bởi vì đây là thành tựu của thời đại, hai là phương pháp tiếp cận của người ta. Hai cái như thế các em phải học tập. Nhà trường không tán thành các em đi theo một mẫu nào hết.
Tôi xin lưu ý đây là tư duy của giới khoa học không coi bất cứ thành tựu nào là cao nhất, là mẫu mực cho chúng ta. Cái cao nhất là không có. Cái mà chúng ta coi đó là cao nhất, chúng ta chỉ có vận dụng thôi.
Tôi cũng xin lưu ý đến một quan niệm về chuyện này, bởi vì nếu như đi theo quan niệm cũ, nếu bị trói buộc bởi các quan niệm cũ thì sẽ triệt tiêu mọi khả năng đột phá. Bởi khả năng đột phá sẽ đụng đến quan niệm cũ và tôi nói như vậy thì cũng có thể phạm huý. Bởi vì nó đi ngược chiều tư duy của xã hội chúng ta hiện nay. Tất cả chỉ là tương đối, cho nên ở đây nó có một chuyện như thế này. Chúng ta thống nhất với nhau về một chương trình hành động cụ thể trong một thời gian nào đó. Nếu đòi hỏi chúng ta phải thống nhất với nhau về mặt tư tưởng tuyệt đối thì nó sẽ triệt tiêu tất cả mọi thứ.
Theo tôi nhược điểm lớn nhất của chúng ta là tuyệt đối hoá. Có chân lý, nhưng chân lý chỉ có ở trong một thời điểm nhất định, trong một không gian nhất định. Chân lý không thoát ra khỏi thời điểm và không gian. Khi thời điểm thay đổi, môi trường không gian thay đổi, chân lý cũng phải thích ứng với sự thay đổi đó.
Điểm thứ hai: Thời kỷ Lênin có gì khác không ? Tôi cho rằng có một số điểm đáng lưu ý. Chưa có kết luận hoàn toàn nhưng theo tôi đáng lưu ý.
Thứ nhất là: Dự báo của Lênin về sự giẫy chết của chủ nghĩa tư bản, giẫy chết một thế kỷ, mà nó chưa chết. Không những nó chưa chết mà nó còn khắc phục được ở trình độ nhất định những nhược điểm nào đó và nó đảm bảo sự sống của nó. Cho nên sự sống của chủ nghĩa tư bản vẫn còn và còn bao lâu chúng ta phải tính. Chắc chắn trong nhiều thập kỷ tới nó chưa chết. Hiện nay nó còn là một thực thể sống trong thời đại chúng ta. Như vậy ít nhất trong mấy chục năm tới chưa có điều kiện để lật đổ chủ nghĩa tư bản, để có thể tống nó ra khỏi vũ đài lịch sử. Đây là một điểm khác. Và chưa chín muồi cho một cuộc cách mạng trên toàn thế giới để lật đổ chủ nghĩa tư bản, chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội. Đây là điểm rất đáng lưu ý. Điều này ảnh hưởng đến chiến lược của chúng ta và cũng ảnh hưởng đến quan niệm của chúng ta về sự phát triển xã hội.
Anh Việt Phương nói: Quan niệm chủ nghĩa độc quyền là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản, đấy là chủ nghĩa tư bản đang giẫy chết, không phải của Lênin, mà là của Hin Gandi đã viết như thế trong một tác phẩm từ năm 1916. Lúc Lênin viết 10 trang về chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã viết là cả 5 đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc nêu ra trong tác phẩm của mình đều có trước, cho nên khi nghiên cứu khoa học thì đừng lầm ông Niu-tơn là ông Anhstanh, đừng lầm ông Anhstanh là ông Niu-tơn. Mỗi một nhận đinh cần làm rõ ai là tác giả. Lênin không phải là tác giả của nhận định chủ nghĩa tư bản giẫy chết, chỉ có tiếp thu cái đó.
Từ điểm này theo tôi cần lưu ý: thời đại chưa tạo điều kiện cho chúng ta thiết lập một xã hội thuần tuý xã hội chủ nghĩa để đối lập với chủ nghĩa tư bản. Chưa tạo điều kiện trong những thập kỷ tới để chúng ta thực hiện việc quá độ này. Như vậy chúng ta phải chấp nhận cùng nhau tồn tại, dựa vào nhau mà đi lên. Đây là một điều đáng lưu ý. Nếu chúng ta cho rằng thời đại ấy vào khoảng 50 năm. 50 năm chưa chín muồi, do vậy chúng ta chưa thiết kế một xã hội thuần chủng của chúng ta. Chúng ta phải thừa nhận rằng trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện nay, nó có những sự phát triển đáng lưu ý, chúng ta phải cùng dựa vào khai thác, đấu tranh với mặt tiêu cực mà chúng ta không chấp nhận được. Chúng ta phải dựa vào hợp tác, hoà nhập trong thời gian tới. Trong thiết kế về mặt lý thuyết, về mặt chiến lược có một mô hình thuần chủng của chúng ta và để chúng ta đối lập và thay thế nó. Cũng có thể khoa học phải nghiên cứu tiếp. Bởi vì cái này ảnh hưởng đến thiết kế chiến lược, đến cả học thuyết, cái lý thuyết phát triển xã hội của chúng ta. Nếu như chúng ta chỉ đi theo con đường cũ, và chỉ có thay đổi đôi chút thôi thì chúng ta phạm phải một cái tư duy duy ý chí nữa, sẽ sai lầm về mặt khoa học, là sự áp đặt. Hệ quả của nó sẽ rất lớn.
Ý thứ hai là nền văn minh công nghiệp cho ra đời chủ nghĩa tư bản và nuôi chủ nghĩa tư bản. chủ nghĩa tư bản muốn phát triển được thì bản thân nó phải tham gia vào sáng tạo ra một nền văn minh mới. Người ta nói đó là nền văn minh trí tuệ. Ta thường nhắc tới kinh tế tri thức, nhưng theo tôi, bên cạnh kinh tế tri thức có mặt văn hoá hiện đại. Nó là nền tảng hơn hẳn cả kinh tế tri thức. Tôi cho rằng nhân loại đang dịch chuyển sang một nền văn hoá mới. Có 4 đặc trưng cơ bản: đặc trưng thứ nhất là nền văn hoá đại khoa học.
Nền văn hoá này có 5 đặc điểm:
Một là loài người đã sáng tạo ra những khái niệm, những phạm trù, những lý thuyết sâu hơn và bao quát hơn. Cho nên giúp cho loài người làm cơ sở tư duy, để phát triển tư duy của mình. Điều quan trọng là vì cái này đang phát triển, cứ mỗi một chu kỳ 10 năm thì có phát triển, có một chất lượng mới, và hàng ngày, hàng giờ theo dõi hoạt động tư duy của loài người có những yếu tố mới xuất hiện. Nó phát triển theo hai hướng: phân ra nhỏ và những lý thuyết tổng quan trên tất cả các mặt. Đây là xu thế đang hình thành, cho nên chúng ta phải lưu ý và tham gia vào cái này.
Hai là nền văn hoá dự báo: Do sự phát triển quá nhanh chóng cho nên không một sự kiện nào, sự vật nào có thể tồn tại lâu dài ở trạng thái ổn định cả. Nó luôn ở trạng thái phát triển. Một vài thập kỷ có sự phát triển của nó, cho nên đặc điểm của tư duy hiện nay gọi là vài thập kỷ có sự phát triển của nó, cho nên đặc điểm của tư duy hiện nay gọi là tư duy dự báo, Để biết được xu thế dẫn dắt cái hiện nay vào cái sẽ tới một cách tế nhị. Tất nhiên không có một dự báo nào tuyệt đối. Cho nên người ta phải điều chỉnh dự báo liên tục. Hiện nay khả năng người ta cho rằng loài người không thể dự báo nổi 50 năm, cao nhất hiện nay là 20 năm, mà cũng không chính xác, phải luôn có sự điểu chỉnh. Tất nhiên trên mỗi lĩnh vực có sự khác nhau.
Ba là văn hoá tư vấn: ở đây không một chính khách nào, không một chính phủ nào có thể dựa vào bản thân những nhà chính khách để có thể điều hành được. Loài người đã tạo ra những nhân vật của mình trên tất cả mọi lĩnh vực, những tổ chức của mình trên phạm vi toàn thế giới. Những nhân vật này đáng được người ta tham khảo, những tổ chức này cũng không có một cá nhân nào dám giám định. Người ta nói Khổng Minh hiện nay đang xuất hiện, gọi là cấu trúc Khổng Minh. Đó là Khổng Minh động, còn Khổng Minh vĩnh cửu không có.
Bốn là nền văn hoá trên cơ sở của những lý thuyết mới. Người ta tạo được những công cụ, cho phép nâng hiệu quả của tư duy và hệ thống công cụ lên, vì vậy con người lao động không chỉ bằng tay mà còn bằng hệ thống công cụ. Ví dụ như hệ thống mạng thông tin là hệ thống công cụ. Hệ thống Internet là hệ thống công cụ. Hệ thống quan sát nó tạo ra hệ thống công cụ. Tất cả hệ thống công cụ ấy giúp khả năng tư duy lên, nó đánh dấu một khả năng phát triển của văn hoá thời đại.
Năm là nền giáo dục dựa trên nền đại khoa học. Nền văn hoá đại nhân văn tạo ra cho nhân loại khả năng hoàn thiện những khả năng tư duy hiện có, tạo ra những khả năng tư duy mới ở trình độ cao hơn với chất lượng mới. Do vậy, nắm được khoa học, nắm được giáo dục để có thể hoàn thiện khả năng tư duy, khả năng hành động. Và để hoàn thiện khả năng tạo ra những hệ thống tư duy ở trình độ cao hơn mà thời đại đặt ra.
Đây là 5 đặc điểm của nền văn hoá đại khoa học. Chính cái này phát triển sớm nên mới tạo ra cơ sở cho kinh tế tri thức. Nếu không có cái này thì nền kinh tế tri thức không có cái nguồn nuôi.
Đặc trưng thứ hai của văn hoá hiện đại là nền văn hoá đại nhân văn.
Ở đây có 2 ý nghĩa: một là vai trò của con người trong lúc này rất quan trọng, cho nên chúng ta phải giải phóng con người, hoàn thiện con người, mối quan hệ giữa con người và con người. Trình độ nhân văn của thời đại cao hơn đòi hỏi giải phóng con người ở mức độ cao hơn trong mỗi thời kỳ. Con người tạo điều kiện để hoàn thiện mối quan hệ giữa công nghệ với con người.
Có nhiều vấn đề phức tạp lắm. Nếu có một chiến lược nào đó chi phối chuyện này thì sẽ làm cho sự phát triển của con người đọng lại, và như vậy sẽ làm thiệt hại cho nhân loại. Cho nên chưa lúc nào vai trò của con người được đặt ở trung tâm của sự phát triển như hiện nay.
Đặc trưng thứ ba của nền văn hoá mới là nền văn hoá sinh thái. Nền văn hoá này mang 2 đặc điểm. Một là sự cân bằng giữa hoạt động của con người và hệ sinh thái. Mất sự cân bằng này con người không phát triển được, nguy hiểm trên mọi góc độ. Hai là sự cân bằng trong việc tôn trọng sự đa dạng của hoạt động. Bởi vì sự sinh tồn ấy dựa vào tính đa dạng chứ không phải mô nô. Mô nô hoá, đơn giản hoá ở một dạng nào đó đều đưa tới sự cạn kiết của sự phát triển. Trong sự đa dạng này có sự đa dạng về ý kiến. Phải tôn trọng sự đa dạng về ý kiến, tạo nên sự ổn định nhất định. Nhưng trong sự ổn định nhất định ấy nên có những khả năng phát triển chính là sự khác nhau.
Đặc điểm thứ tư của nền văn hoá mới là nền văn hoá trái đất và dân tộc. Mỗi dân tộc là một xóm. Nói một cách khác, đó là nền văn hoá đa dân tộc. Mỗi một dân tộc hưởng thành tựu của các dân tộc khác, đồng thời mỗi một dân tộc lại đóng góp những thành tựu của mình vào dân tộc khác. Cho nên người ta nói rằng mỗi một con người ở nền văn hoá mới vừa là công dân của đất nước mình lại vừa là công dân của trái đất. Tính chất công dân của trái đất ấy là phải đậm nét, trở về nâng tính chất công dân của dân tộc ấy. Như vậy là một nền văn hoá đa dân tộc đang hình thành. Nền văn hoá này rất coi trọng đặc điểm dân tộc, coi trọng sự đóng góp của mỗi dân tộc vào cộng đồng chung, đồng thời coi trọng việc tiếp nhận những tinh hoà của cộng đồng cho dân tộc mình, gắn dân tộc mình vào cộng đồng của trái đất. Đây là một điểm mới có sự phát triển, chúng tâ cần lưu ý bên cạnh kinh tế tri thức. Vậy có nghĩa là thế nào ? Có nghĩa là xã hội tương lai mà chúng ta thiết kế mang đậm nét nền văn minh trí tuệ, chứ không phải là nền văn minh của công nghiệp. Nó tạo nên một xã hội văn minh về trí tuệ. Nó phải chứa đựng những yếu tố của nó, những yếu tố này có điều kiện phát triển toàn diện, nó đảm bảo cho sự phát triển của xã hội mới.
Kinh nghiệm của chủ nghĩa tư bản cũng thế, mà kinh nghiệm của chủ nghĩa xã hội cũng thế: không có một sự ổn định tuyệt đối. Sự phát triển diễn ra hai hướng. Hướng thứ nhất phát triển đi lên. Vì vậy người ta đặt ra không có một xã hội tuyệt đối. Chỉ có một xã hội tiến bộ với những khuyết tật. Thí dụ: tiến bộ lên ở một trình độ cao hơn với những khuyết tật mới, ưu điểm mới chứ không có xã hội lý tưởng hoàn toàn không có khuyết tật. Nhưng nếu sự lãnh đạo, chỉ đạo sai lầm thì xã hội cũng có khả năng bị tha hoá. Nó chuyển sang một trạng thái đối lập ngay, chứ không phải một sự tiến bộ vững chắc hoàn toàn không bao giờ có thể thay đổi được. Một xã hội động chứ không phải là một xã hội tĩnh tuyệt đối. Cho nên tính tiến bộ bao giờ cũng đi đôi với khuyết tật. Không xã hội nào chỉ có tiến bộ, không có khuyết tật và cũng không có xã hội nào chỉ có khuyết tật mà không có yếu tố của những tiến bộ.
Việc thứ ba: Trong quá trình phát triển Đảng ta có những ưu điểm gì ? Hiện nay có những điểm gì đáng lưu ý, bất cập của chúng ta. Phải nói rằng trong quá trình phát triển, thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của chúng ta là thời kỳ cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống xâm lược. Thời kỳ này Việt Nam có nhiều bài học tích cực, tất nhiên là không phải không có khuyết tật, nhưng phải nói những bài học tích cực là chủ yếu. Đến thời kỳ hiện nay thì phải nói rằng Đảng ta đã thực hiện một điều mà tôi cho rằng: đây là một thành tựu có tính lịch sử, nó thay đổi bản chất của Đảng ta, tức là Đảng chủ trì cuộc đổi mới. Đây là một sự đột phá đẹp nhất trong lịch sử tức là dám đụng đến những vấn đề cơ bản nhất của lý thuyết phát triển của chúng ta. Chúng ta chấp nhận kinh tế thị trường, tạo điều kiện để chúng ta có thể gỡ được khủng hoảng và nếu như không đi được con đường này thì tình hình Việt Nam không biết đi đến đâu. Đây là một sự sáng tạo dẫn tới thành công và sự sáng tạo ấy mở rộng con đường, tức là giải phóng tư duy của chúng ta khỏi chủ nghĩa giáo điểu, mở đường cho sức sáng tạo của Đảng và rộng ra là sức sáng tạo của dân tộc trong điều kiện hiện đại. Như vậy sự sáng tạo ấy cũng đã mở đường cho chúng ta tiếp cận tới cái gọi là tính chất thời đại cho nó vươn lên. Nhưng tôi nói nó mở đường để tiếp cận thôi. Nhưng hiện nay đáng tiếc xu hướng ấy đang bị chặn lại. Đáng lẽ nó vượt lên ở trình độ cao hơn và đột phá những vấn đề mang tính chiến lược và mang tính chất lý thuyêt, tính chất tổng quan cao hơn. Tôi cảm giác nó chậm lại, bởi vì cái dự trử của đổi mới, cái sáng tạo ấy gần như cạn rồi. Nó đòi hỏi phải có đột phá mới. Cái nhược điểm của chúng ta chính là hạn chế trong chuyện này, thậm chí khi quan sát sự đổi mới ở Trung Quốc thì nhiều người lo lắng rằng họ đã chệch hướng. Họ từ bỏ con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin, họ nói chủ nghĩa Mác – Lênin nhưng thực chất họ từ bỏ. Nhiều người lo lắng như vậy. Tôi nghĩ nếu họ từ bỏ cái giáo điều ấy thì đúng. Trung Quốc hiện nay đang tập trung nghiên cứu để tìm ra một lý thuyết của Trung Quốc để thích ứng với thời đại. Như vậy Trung Quốc có tham vọng không phải dừng lại ở những lời chỉ dẫn của các nhà kinh điển, mà Trung Quốc mở ra một con đường để có thể tìm con đường sáng tạo của mình. Họ làm như thế nào, chúng ta nên theo dõi. Cũng không nên vỗ tay hoàn toàn, không có điều gì không có sự phê phán; cũng không nên lo lắng rằng họ có thể chệch hướng rồi. Đây là một việc thử nghiệm nghiêm túc, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ nghiêm túc tiếp cận chứ không nên lo lắng quá nhiều chuyện này. Bởi vì người Trung Quốc hay Đảng cộng sản Trung Quốc họ có trách nhiệm với Đảng của họ và dân tộc của họ. Trong Trung Quốc có một điều lưu ý: trong Đại hội 16 vừa qua họ nói là tiến cùng thời đại. Khái niệm tiến cùng với thời đại, tôi cho là một khái niệm rất hay. Nội hàm của nó thì chúng ta phải theo dõi xem, họ đưa ra một cái nội hàm như thế nào. Tư tưởng tiến cùng thời đại là tư tưởng cực kỳ hay. Hiện nay họ làm ba điều. Điều thứ nhất là họ đưa lực lượng giới doanh nghiệp vào trong Đảng. Đây không phải là điều cuối cùng, nhưng đây là sự bắt đầu chuyển biến đáng lưu ý. Điều thứ hai đáng lưu ý, sắp tới họ đưa ra Quốc hội luật về thừa nhận quyền sở hữu. Đưa quyền tư hữu vào luật pháp. Vậy là họ có đột phá về chuyện này. Điều thứ ba là họ nghiên cứu khái niệm giai cấp công nhân có còn thích hợp không. Họ đưa ra nên thay khái niệm giai cấp công nhân thành những người lao động. Trọng tâm của lao động là lao động trí tuệ. Đưa ra Đảng của những người lao động trí tuệ thì sức sống của Đảng ấy bền vững hơn. Tôi sẽ phát biểu về giai cấp công nhân sau. Nhưng tôi xin lưu ý: đây là tôi nói về thành tựu đã mở ra triển vọng như vậy. Kết luận là: chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng ở chuyển biên, mặc dù có những lúc cái chuyển biến nó nhanh, nó táo bạo, nó lớn, có lúc nó chững lại. Hiện nay nó chững lại. Nhưng ta hy vọng rằng nếu như có sự tác động, do sự vươn lên thì một triển vọng đột phá mới, mà trong đó có vai trò của Hội đồng lý luận, vai trò của giới khoa học đóng góp cho Đảng.
Bây giờ nói đến những khuyết tật, những vấn đề mà hiện nay đang đặt ra. Có mấy vấn đề lớn.
Thứ nhất: chúng ta phải khắc phục sự chậm trễ và sơ cứng về tư duy
Những điều tôi vừa nói cũng chứng minh sự cần thiết phải đột phá về mặt tư duy. Nếu không có sự đột phá về mặt tư duy và nếu như tư duy trong trạng thái hiện nay thì cái xu thế e ngại, xu thế muốn làm sống lại những quan niệm cũ sẽ chi phối xã hội hiện nay. Nếu như vậy thì đây là một nghịch lý cản đường Đảng ta và xã hội ta đi lên. Cho nên vấn đề hiện nay là phải giải phóng tư duy để tạo điều kiện sáng tạo mới, sáng tạo hơn nữa. Đây là vấn đề lớn nó tác động đến những điều kiện sáng tạo mới, sáng tạo hơn nữa. Đây là vấn đề lớn nó đụng đến những vấn đề cơ bản, nhận thức cơ bản về thời đại, nhận thức cơ bản về cái thực tiễn hiện nay. Hiện nay về mặt hoạt động xã hội thì đã có sự chuyển động. Nhưng trong nội bộ Đảng mà nói thị chuyển động còn hạn chế, còn có gì đó đang lo lắng. Nếu như Hội đồng lý luận có thể làm được chuyện này giúp cho Đảng đi vào Hội nghị giữa nhiệm kỳ, vào Đại hội X, thì sẽ mở ra nhiều triển vọng. Hiện nay tư duy của một số đồng chí có trách nhiệm thuộc lớp trước của tôi rất hạn chế, không dám đột phá đi lên. Chuyện này ảnh hưởng lớn đến sự phát triển hiện nay. Trong lớp lãnh đạo hiện naythì như thế nào. Những yếu tố tiến bộ cũng xuất hiện nhiều. Trong những cuộc trao đổi riêng hầu như nhiều vấn đề đều gặp nhau, không ai phản đối sự cần thiết phải đổi mới tư duy hơn nữa. Nhưng khi vào họp bàn chung thì thấy nó trì trệ. Tôi có điều kiện làm việc với một số đồng chí lãnh đạo hiện nay cũng có điều kiện tiếp cận nhiều. Trong số đó có một số đồng chí làm việc với tôi nhiều như đồng chí Nguyễn Minh Triết, Hồng Anh, hay như lớp trong quân đội, trong giới khoa học. Nhược điểm của các đồng chí này là không dám đột phá, biết là có thể như thế, nhưng không dám chịu trách nhiệm. Có một cái là ngại rằng đụng đến vấn đề này thì bị lên án là “diễn biến hoà bình”, một cái gì đó không lành mạnh, nên giữ mình về chuyện này. Tôi nghĩ rằng có yếu tố tiến bộ, bởi vì kiến thức của các đồng chí cũng đã phản ánh kiến thức của thời đại ở mức độ nào đó. Sự chuyển biến của thực tế Việt Nam và thế giới, của khoa học, của thời đại cũng ảnh hưởng đến các đồng chí ấy. Nhưng cũng có một thế lực nào đó hạn chế họ. Việc này cũng có ảnh hưởng đến hoạt động lý luận của chúng ta. Tôi xin lưu ý về chuyện này.
Một điểm thứ hai tôi cho là nhược điểm, đó là chưa thành công trong việc tạo không gian dân chủ. Có thể nói rằng hai cái khẩu hiệu cách mạng nhất là bánh mì và tự do. Đều là hai cái việc của chúng ta. Bánh mì tức là kinh tế, tự do tức là một không gian dân chủ. Chúng ta đương lúng túng rất nhiều. Trước hết tôi xin lưu ý như thế này, có mấy quan điểm ảnh hưởng đến chúng ta. Quan điểm thứ nhất là chúng ta sợ bóng sợ gió gọi là “diễn biến hoà bình”, cho nên có một thời kỳ chúng ta đưa ra những luận điểm của giới bảo thủ gọi là luận điểm diễn biến hoà bình của Trung Quốc do Tổng cục 2 cung cấp và đưa ra để hù doạ chúng ta. Tất nhiên bây giờ chuyện đó cũng đã đi vào lịch sử. Đặc biệt là hù dọa giới khoa học. ở đây điển hình là tài liệu “vạn ngôn thư” của Trung Quốc. Rất nhiều đồng chí của chúng ta thích kiến nghị này, cho cái này là rất hay nhưng không thấy cái này là phản ứng của trào lưu bảo thủ chống lại sự tiến lên của xã hội Trung Quốc. Theo tôi hãy còn một số lực lượng thờ phụng cái này. Tôi đi vào đơn vị cũ ở trong lực lượng vũ trang cũng như thanh niên, thì điều là đáng buồn là các đồng chí làm công tác chính trị lại coi việc chống diễn biến hoà bình công cụ của lãnh đạo chính trị. Tôi xin lưu ý: trước hết là dùng khái niệm, diễn biến hoà bình, để giữ cái ổn định chính trị, qua đó đàn áp các ý kiến khác nhau.
Thứ hai là khái niệm Đảng độc quyền lãnh đạo
- Về Đảng độc quyền lãnh đạo,cần hiểu khái niệm này như thế nào ? Đảng lãnh đạo như thế nào ? Không khéo nó chuyển sang sự chuyên chế của một Đảng. Nếu các đồng chí quan sát các hoạt động của bộ máy Nhà nước, đặc biệt là hoạt động của Quốc hội thì các đồng chi nói Quốc hội là thể chế hoá Nghị quyết của Đảng. Như vậy quan điểm thể chế hoá này phổ biến, cho nên không ai dám nói ngược lại cả, không ai dám kiến nghị, làm cho không khí hoạt động của Quốc hội, sáng tạo hoạt động của Quốc Hội, không khí đề cập tới những vấn đề cơ bản nhất bị tê liệt, vô hiệu hoá.
- Sự hoạt động sáng tạo của các cơ quan có trách nhiệm đụng đến những vấn đề cơ bản thì Chủ tịch đoàn nói rằng: Bộ Chính trị quyết định rồi. Chúng ta bàn trong phạm vi Bộ Chính trị quyết định.
- Như thế những cái quyết định của giới lãnh đạo của chúng ta trở thành một cái cản đường. Ta lãnh đạo nhưng có phải vì quyết định ấy là quyết định cuối cùng không, không ai được góp ý kiến không? Tôi xin lưu ý mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước; mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Tôi thấy còn một loạt vấn đề chưa được lý giải. Về căn bản mà nói nguyên tắc tập trung dân chủ bao giờ cũng hạn chế dân chủ. Vì cuối cùng trong hoạt động thực tiễn người ta thấy tính tập trung chứ không thấy tính dân chủ. Xét về lý luận có lẽ phải quay ngược lại lấy nguyên tắc dân chủ là cơ bản trên cái nền ấy ta ghi dân chủ – tập trung chứ không phải trên cái nền tập trung mà thực hiện dân chủ.
- Vấn đề thứ tư nó ảnh hưởng đến dân chủ của chúng ta. Trên thế giới có khái niệm: Nhà nước pháp quyền – xã hội công dân. Ta nói xã hội công dân là dân chủ đích thực, tức là quyền làm chủ của nhân dân. ở ta quyền làm chủ của nhân dân chỉ là hình thức. Bản thân người dân chưa cảm nhận được quyền làm chủ của mình. Ngay cả các đồng chí kỳ cựu như đồng chí Tố Hữu rất nhiều tâm sự. Anh phát biểu với chúng tôi: mình cảm thấy mình chưa được làm chủ. Có lẽ chỉ được phép làm chủ khi Bộ Chính trị cho phép phát biểu 20 phút hoặc nửa giờ, chứ còn mình có được làm chủ đâu. Thế thì khái niệm quyền làm chủ của nhân dân quan hệ với Đảng lãnh đạo như thế nào ?
- Vấn đề thứ 5 là Đảng có thừa nhận có những ý kiến trái với nghị quyết không; trái quyết định của Đảng không. Trong tư duy có cho phép chuyện này không? Bởi vì nếu cho thừa nhận chuyện này thì một mặt phải thống nhất hành động, nhưng trong tư duy có thừa nhận phải có tự do nhất định, có cho phép đột phá không? ở đây nó có 2 cái, một là minh bạch hoá, hai là công khai hoá và cho phép tồn tại những ý kiến khác. Bởi vỉ không có thì không thể nhậy cảm được những vấn đề mới nẩy sinh. Bởi vì nó không minh bạch, không công khai cho phép chuyện này. Tôi lấy ví dụ như bản thân tôi đi lấy tư liệu rất khó. Tất nhiên mỗi người đều có nguồn riêng của mình. Các anh cũng có nguồn riêng của các anh. Ở Châu Âu ta thấy tình hình lấy tư liệu dễ hơn. ở ta lấy tư liệu rất khó, nhất là tài liệu bí mật. Thể hiện rõ nhất là ở 19 điều cấm, mà người ta không thể hiểu được. Tôi nói hôm nay cũng là vi phạm vào 19 điều cấm. Nếu tôi tôn trọng 19 điều cấm thì tôi không nói. ở đây tôi xin nói một khía cạnh hết sức đáng lưu ý, nhưng tôi nói nội bộ thôi. Kinh nghiệm cổ kim đông tây và kinh nghiệm của cả nhân loại có một điểm: mọi sự độc quyền đều dẫn đến tha hoá, bất kể dưới dạng nào. Trong đó kể cả Đảng ta. Tất cả mọi sự độc quyền đều vắng bóng dân chủ. Nhưng cũng có ở một thời điểm lịch sử nhất định phải có một sự độc quyền nhất định thì mới có thể thay đổi được tình huống. Nhưng sự độc quyền ấy nếu kéo dài ra vĩnh cửu thì nhất định dẫn đến tha hoá. Đây là bài toán ta phải lý giải được. Tôi nghĩ rằng sớm muộn sự xuất hiện những lực lượng đối trọng ở dạng này, dạng khác nhất định sẽ diễn ra, đó là cái tất yếu, nhưng là lúc nào thôi, là đối trọng lành mạnh, chứ không phải là đối trọng ác ý. Mọi sự độc quyền đều dẫn đến chuyên chế. Đây là vấn đề hết sức lớn, ta có thừa nhận không. Tôi có kiến nghị cụ thể như thế này, trước hết trong nội bộ Đảng tạo nên một không khí có đối trọng. Có đối trọng nghĩa là có Ban giám sát của Đại hội bầu. Ban giám sát làm 3 nhiệm vụ:
Một là: quan sát việc thực thi đường lối, sự lãnh đạo việc hoàn thiện đường lối đó như thế nào của Ban chấp hành và của những người lãnh đạo. Nó độc lập.
Hai là: quan sát nhân cách cá nhân một số con người. Vì nếu có một số con người có ý đồ cá nhân thì hỏng cả thôi, đại sự sẽ hỏng. Tôi xin lưu ý tất cả mọi quyền lực nếu tập trung mà không có sự giám sát thì đều đưa đến sự tha hoá ở dạng này, dạng khác.
Ba là: giám sát việc dùng người.
Ba cái tác động vào sự kiềm chế quá trình tha hoá.
Ý kiến thứ hai về học thuật cho phép tồn tại trong Đảng những ý kiến nghiên cứu, không công bố, không được phổ biến vì những ý kiến nghiên cứu trái với những quyết định đã ban hành. Bởi vì có cho phép tồn tại những ý kiến này thì mới tạo được động lực phát triển, ít nhất trong nội bộ Đảng.
Bốn là đứng về xã hội cho phép những công ty tư nhân làm nghiên cứu, tư vấn độc lập có như vậy mới đảm bảo sự phát triển.
Hiện nay tôi nghĩ rằng chưa chín muồn cho sự xuất hiện một thế lực đối lập với chúng ta. Bởi vì bây giờ mở rộng theo kiểm tự do vô giới hạn thì xã hội loạn ngay lập tức. Nhưng mà vài ba chục năm nữa những yếu tố của nó xuất hiện thì sao? Phải nghiên cứu vấn đề này và xác định thái độ của chúng ta như thế nào ? Bắt đầu từ các đoàn thể, các tổ chức. Tổ chức khoa học có giữ ý kiến của nó không. Các tổ chức có ýkiến, kiến nghị với Đảng, với Quốc hội. Nếu không có chuyện này thì làm sao có đối trọng được. Tôi chưa tán thành, ít nhất là trong 10 năm trước mắt một tổ chức công khai đối lập với Đảng ta. Bởi vì xã hội chưa chín muồi cho chuyện này. Nhưng mà quan điểm của tôi là vài ba chục năm sau khi xuất hiện tình hình thay đổi rồi, xuất hiện lực lượng này chúng ta phải lưu ý. Phải nghiên cứu và giành chủ động về chuyện này, chứ không phải ngăn cấm hoàn toàn chuyện đó, coi đó là con đường tốt nhất. Chúng ta phải đề phòng có thể có những trường hợp này và đấy là sự cạnh tranh lành mạnh trong xã hội. Ở đây cũng có vấn đề dân chủ phải là tôn trọng vai trò của Nhà nước. Nhà nước do Quốc hội bầu ra thì phải dân chủ hoá và tạo điều kiện cho nó làm việc. Tôi kiến nghị như thế này: Đảng đưa ra những kiến nghị cho Quốc hội, trên cơ sở những đề nghị ấy, Quốc hội bàn bạc, và có thể có ý kiến đối trọng lại. Chứ bây giờ chỉ nêu thể chế hoá không thôi thì tê liệt hoàn toàn. Chúng ta có thừa nhận trong Quốc hội có nhóm đối lập không. Đến một mức độ nào đó phải nhận thức chuyện này thì mới phát triển được. Phải chuẩn bị những điều kiện này, chuẩn bị một vài kỳ Đại hội, trong phạm vi khoảng 10 năm phải có chuyện này thì mới có không khí dân chủ đích thực được. Trong Đại hội có tự do không? Tất cả các đoàn đại biểu phụ thuộc vào các tỉnh hết. Bây giờ có xuất hiện một nhóm, nó tập hợp có kiến với Đại hội, có không? theo tôi phải chuẩn bị chuyện này, cho phép chuyện này. Như thế mới có không khí bàn bạc được. Đại hội Đảng không phải là đại hội gật. Có một nhóm Việt kiều đưa kiến nghị như thế này, cũng đáng lưu ý: trên thực tế hiện nay Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam là cơ quan cao nhất, quyền lực cao nhất, chứ không phải là Quốc hội.
Xin đề nghị Đại hội Đảng lãnh trách nhiệm giải quyết vấn đề Nhà nước và hàng năm Đảng cộng sản họp Đại hội một lần.
Một là cho dân góp ý kiến với các đại biểu
Hai là cho dân được kiến nghị với Đại hội
Bộ Chính trị phải trở thành cơ quan hành pháp, bởi vì nhiều việc lớn hàng ngày là do Bộ Chính trị quyết định. Bộ Chính trị trở thành cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm với dân.
Tôi nghĩ ý kiến của một số Việt kiều trên kia là một sự phản ứng tốt, thực tế là như thế. Điều chúng ta đáng lưu ý là vai trò của Đảng đối với Nhà nước. Biến Nhà nước trở thành công cụ ngoan ngoãn chỉ biết giơ tay thôi thì không thể nói đến việc phát huy vai trò của Nhà nước. Vấn đề là như vậy, sớm muộn chúng ta phải giải quyết. Tôi nghĩ không phải đến Đại hội X ta đã giải quyết được vấn đề này, bởi vì Đại hội X chưa chín muồi. Nếu quá một Đại hội nữa, một thập kỷ nữa thì sẽ có chuyện phức tạp. Bản thân người dân cảm thấy họ không được hưởng quyền gì. tôi nghĩ thế này, mọi sự chịu đựng đều có giới hạn, giới hạn đến đâu thì cũng chỉ có giới hạn. Thế nhưng với trò chơi dân chủ như thế này tôi nghĩ rằng sớm muộn nó sẽ tan vỡ. Đây là vấn đề lớn thứ hai là thiếu một không gian dân chủ. Chúng ta phải tạo không gian dân chủ mang đặc tính của chúng ta, nếu không thì chưa thuyết phục được với ta, với thế giới, với người dân, với đảng viên của chúng ta.
Khuyết tật thứ ba: vấn đề chính sách đối với con người.
Tôi xin lưu ý tình hình xã hội hiện nay thực chất như thế nào. Theo tôi quan sát dân tình có tính chịu đựng rất ghê. Nó không như Châu Âu. Nếu tình hình này như Châu Âu thì đã có bao nhiêu chuyện đứng lên có yêu cầu của mình rồi. Có sự chuyển biến về mối quan hệ giữa người dân với Đảng. Tình cảm ấy cứ nhạt dần. Mối quan hệ giữa người dân với mục tiêu của chúng ta là chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là tầng lớp trẻ cũng nhạt dần, nó mang tính hình thức. Cái mất lòng tin ở mức độ khác nhau, xuất hiện và trở thành phổ biến. Triết lý của người ta là mỗi người hãy tự cứu lấy mình. Cách sống của xã hội hiện nay do tình hình lòng tin bị tổn thương như thế nên người ta phải sống thực dụng, tự cứu lấy mình. Tôi hết sức lưu ý đến chuyện ta tự cứu lấy mình. Cái thực dụng này nó khác khi anh em mình đi hoạt động. Quá trình trưởng thành của chúng ta tin tưởng tuyệt đối và không nghĩ rằng mình được hưởng cái gì, mà nghĩ rằng mình đóng góp vào tương lai ấyhoàn toàn mình làm chủ được. Đảng tạo điều kiện cho mình làm chủ. Đó là tư duy của chúng ta thời kỳ đi hoạt động và cả gần hết cuộc đời của chúng ta như thế. Bây giờ con cháu của chúng ta không có tư duy như vậy. Chúng ta cũng phải giúp chúng nó trở thành, tự lập lấy chứ không phải phóng số phận của mình cho tổ chức được.
Bây giờ triết lý của xã hội đã thay đổi khác. Nó đi theo hướng thực dụng, từ thực dụng nó đi tới những tiêu cực xã hội dưới những dạng khác nhau. Tiêu cực lớn nhất là đánh mất mình. ở đây chúng ta kết luận cái gì. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, chúng ta chưa thành công trong việc xây dựng con người mới. Con người thực tế mà chúng ta xây dựng lại là con người thực dụng. Có phải như thế không? Nói thế này nếu mà kết luận nó tuyệt đối thì sai lầm. Nhưng nếu không thừa nhận nó thì cũng là một sai lầm. Đây là xu thế đã xuất hiện, đang xuất hiện, đang đi tới và chưa có phương hướng nào giải quyết được chuyện này. Nó khác hoàn toàn trước, và ai chịu trách nhiệm chuyện này. Đây là một cái đáng lưu ý thứ nhất.
Đáng lưu ý thứ hai là con người chúng ta dựng lên, đội ngũ chúng ta dựng lên phải nói là không thiếu gì con người tâm huyết và có trình độ. Nhưng vì những người tâm huyết đều có thắc mắc là mình không được sử dụng, không được tạo điều kiện để phát triển và đều nghĩ rằng mình phải tròn trĩnh hoá, tròn trĩnh thì mới đứng được, mới tồn tại được. Nếu có góc cạnh, nếu có tâm huyết, nếu có ý muốn làm mới hơn, khác hơn thì không thể tồn tại được.
Có phải đây là một tình hình thực tế hiện nay không ? Phải chăng cách sống tốt nhất hiện nay là im lặng. Có một câu rất buồn cười, hay và tiếu lâm: hãy đi theo con cái các cụ. Còn đối với các cụ thì hãy tôn thờ các cụ. Các cụ vĩ đại lắm. Nhưng đi theo cách đó thì con người mà chúng ta sử dụng ở tất cả các cấp có một trạng thái là không nói thật được với nhau. Họ phải điều chỉnh ngôn ngữ, điều chỉnh tư duy, điều chỉnh đến mức tự đánh mất mình. Không điều chỉnh thì chết ngay, không đứng được. Người ta nói rằng: “Anh nào điều chỉnh thông minh, hợp thời đại thì có thể có tương lai, có triển vọng”. Hệ quả của nó thì rất tai hại. Anh nào cũng phải tự điều chỉnh, chỉ khác nhau ở mức độ thôi.
Một hệ quả mà chúng ta cần lưu ý là trình độ trí tuệ của xã hội tăng lên rất nhiều so với trước. Ngược lại thì chính khách xuống cấp. Trong xã hội chúng ta có bao nhiêu tư duy mới, bao nhiêu ý kiến mới. Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng các chính khách của chúng ta, đặc biệt là chính khách chiến lược, không phải là họ kém, thiếu lương tâm, nhưng mà do họ đã tự điều chỉnh quá nhiều để thích ứng với tình hình đến mức vai trò cá nhân của họ cứ mờ nhạt ra đi và phải tròn trĩnh đi. Như vậy là đội ngũ chính khách mà chúng ta đào tạo ấy nếu so với lịch sử thì cứ ngày càng thấp xuống. Tất nhiên tôi không nói là không có những người giỏi. Tôi nghĩ rằng trong số những người hiện nay nếu có chính sách khác thì họ xuất hiện, họ làm được ngay, nhiều người có khả năng. Nhưng với cơ chế, với quan niệm như hiện nay thì trong xã hội có 2 khủng hoảng lớn nhất,. Thứ nhất là khủng hoảng chính khách, hai là khủng hoảng lý thuyết phát triển. Hai cái liên quan với nhau vì nếu không có chính khách tầm cỡ thì không hướng cho xã hội phát triển được, và mâu thuẫn với trình độ xã hội đi lên. Thời đại văn minh trí tuệ đang xuất hiện. Nếu so sánh với trình độ xã hội đi lên. Thời đại văn minh trí tuệ đang xuất hiện. Nếu so sánh với thế hệ các nhà lãnh đạo Trung Quốc thì phải nói rằng chúng ta cũng có những con người như thế. Nhưng những con người có bản lĩnh lại không phải là những người chúng ta chọn. Tôi nói với những cơ quan có trách nhiệm về môi trường tạo ra những chính khách tức là vườn ươm đã bị hỏng từ cơ bản. Tôi nói rằng môi trường của Hà Nội, thành phố Hồ Chính Minh, đáng nhẽ 2 nơi này phải là nơi tạo ra những chính khách. Nhưng than ôi trong một vài thập kỷ vừa qua thì các môi trường này không tạo ra được chính khách.
Môi trường thứ hai phải đào tạo chính khách là môi trường Chính phủ và hoạt động của Nhà nước, hoạt động của xã hội. Môi trường hoạt động của Quốc hội chưa đào tạo được chính khác.
Môi trường thứ ba tạo ra chính khách đó là các ban của Đảng. Thế nhưng “tiến vi bộ, thoái vi ban”. Đây là nơi chứa những người không dùng được thì đưa về các Ban của Đảng.
Môi trường thứ tư là các đoàn thể. Đáng lẽ đây là nơi lựa ra các chính khách. Nhưng than ôi, chính khách của Đoàn thanh niên, chính khách của Hội phụ nữ, chính khách của công đoàn thì vắng bóng: tư duy thiếu tầm cỡ. Tại sao? Tôi nghĩ đoàn thanh niên của Trung Quốc tất cả những người táo bạo đều ở đó.
Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương, Hồ Cẩm Đào, đều ở Đoàn thanh niên cả. Thanh niên Thượng Hải, khu vực ấy tạo ra ngay chính khách. Nhưng môi trường của chúng ta không tạo được.
Môi trường nữa là giới khoa học. Những chính khách của chúng ta trưởng thành từ giới khoa học hầu như vắng bóng. Tôi xin lưu ý về việc dùng người. Vậy sự kết thúc của chúng ta là hệ thống chính khách từ cấp cơ sử cho đến cấp trung ương đang là bài toán của hệ thống tổ chức của Đảng. Vừa rồi nhấn mạnh đến việc luân chuyển cán bộ, coi đó là một biện pháp tuyệt đối để tạo nên các chính khách. Không phải. Phải chuyên môn hoá cán bộ. Một số tỉnh uỷ lên gặp tôi, dân thanh niên lên gặp tôi nói: “Chúng em không tưởng tượng được, người ta cứ ép chúng em phải nhận. Thôi thì cứ phải nhận. Phải chịu đựng ông ấy một hai năm, tạo điều kiện không phê phán gì cả, ông ấy làm rồi ông ấy đi thôi”. Nhưng khi tổng kết thì đã với kết luận là chính sách luân chuyển ấy là một biện pháp chiến lược thành công
Một hiện tượng nữa, quan niệm về tiêu chuẩn cán bộ là cái gì? Tôi xin nói mấy điểm: nhấn mạnh quan điểm giai cấp trong việc lựa chọn cán bộ đã làm tê liệt quan niệm của chúng ta. Tráng một tý công nhân, tráng một tý đào tạo, thì các anh cho đó là các nhà chiến lược, cho nên người ta tự hào rằng những người lãnh đạo hiện nay xuất phát từ giai cấp công nhân. Đó là thành công. Có thật môi trường công nhân tạo ra các nhà chiến lược không? Đi vào công nhân, đi vào đào tạo là cần thiết, nhưng có phải đây là môi trường đào tạo ra các nhà chiến lược đích thực không, đây là vấn đề.
Thứ hai, sự trung thành với học thuyết, trung thành với đường lối có phảilà tiêu chuẩn cao của cán bộ chiến lược không ? Nếu như cái học thuyết ấy, đường lối ấy tiến bộ thì đúng thật. Nhưng nếu nó sai, nó khủng hoảng, nó đòi hỏi cần phải đổi mới theo yêu cầu của lịch sử, thì sự trung thành lại trở thành không đúng.
Một tiêu chuẩn nữa là tham gia cuộc đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa, bảo vệ đường lối. Vậy khái niệm thế nào là bảo vệ? Theo tôi bảo vệ là phải phát triển. Phát triển sao cho phù hợp với thực tiễn chứ không phải là hô khẩu hiệu. Có những cái lấy ý kiến đa số chưa chắc đã đúng. Tôi xin lưu ý rằng kinh nghiệm của bản thân tôi những thằng nào dám vào cuộc, chưa chắc lúc đầu đã được chấp nhận, nhưng cuối cùng khi ta vào cuộc thành công thì người ta tín nhiệm. Đây là thực tế tôi quan sát được.
Một điểm nữa là hệ thống quan điểm thế rồi, nhưng cơ chế đào tạo, cơ chế tuyển chọn cán bộ, một cơ chế và một cơ quan độc quyền không cạnh tranh, không có đào thải làm thế nào có nhân tài được. Hiện nay chỉ một số người độc quyền thôi, mà cuối cùng là mấy ông trợ lý tổ chức chi phối. Một số không công khai bí mật bên trong nhận định thế thôi. Không có đào thải thì làm thế nào đào tạo được. Cho nên chính sách dùng người ở đây có những vấn đề cần phải xem từ gốc, mà hệ quả của nó đi tới là tạo một vườn ươm của chủ nghĩa thực dụng, làm tê liệt khả năng sáng tạo. Đất nước và Đảng cũng không thiếu nhân tài, không thiếu cán bộ lãnh đạo, nhưng với chính sách hiện nay, người ta nói rằng – tôi nói nội bộ thôi – hai cánh giúp cho Đảng, tức cánh Văn Hoá Tư Tưởng nắm tư tưởng, chi phối mặt trận tư duy của con người và cánh Tổ chức chi phối số phận con người.
Nếu như chúng ta nắm lấy đào tạo để tạo nên tầng lớp sẽ vào cuộc cao hơn tầng lớp hiện nay, theo một quan niệm mới, có khả năng mới đột phá để làm lực lượng xung kích đột phá vào khu vực mà chiến lược của ta bị yếu. Tạo ra những con người năng động, độc lập, sáng tạo, có tiềm lực khoa học, có tiềm lực hành động. Than ôi, nền giáo dục của chúng ta bị băng hoại. Có 4 nhược điểm cơ bản củagiáo dục mà không thoát được. Đảng không lãnh đạo thoát được thì ảnh hưởng đến toàn bộ lớp trẻ chúng ta đào tạo. Thứ nhất là nền giáo dục tạo nên sản phẩm giả và lưu hành sản phẩm giả từ cấp cơ sở đến ông tiến sĩ, đến ông giáo sư, lưu hành và trộn lẫn với nhau. Cuối cùng thì chết thằng thật. Không phải không có thằng thật. Trộn lẫn như vậy thì thằng giả chi phối. Hiện nay có bao nhiêu tiến sĩ giả, giáo sư giả. Ông Vũ Đình Cự nói với tôi: theo tôi ước lượng vào khoảng 70%. Tôi không có số liệu cụ thể về chuyện này. Nhưng nhiều người có trách nhiệm nói về hiện tượng đáng lo ngại. Đua nhau và theo 2 hướng: một là, mua danh; hai là để kiếm chút địa vị và biến nó trở thành một thứ hàng hoá để lưu hành. Tất cả chuyện nay trộn lẫn với nhau.
Hiện tượng thứ hai: Hệ thống giáo dục trở thành thị trường không lành mạnh. tất cả các thành phần của giáo dục trở thành một thứ hàng hoá mang giao bán, tất cả các kỳ thi, các chứng chỉ. Mười năm rồi nhưng tất cả các hiện tượng này chưa được khôi phục, mỗi ngày một nghiêm trọng hơn.
Hiện tượng thứ ba: hệ thống thầy giáo rất thiêng liêng, tuy không phải là tất cả, nhưng có xu hướng là người kinh doanh, mà kinh doanh rất tàn nhẫn.
Hiện tượng thứ tư: đào tạo theo mẫu và không có trách nhiệm. Cho nên báo chí đưa ra đầu vào rất khó, nhưng đầu ra rất dễ. Đào tạo thế thôi, tức là một giáo trình có thể tồn tại 10 năm, 15 năm mà không thay đổi. Tôi có thằng cháu được vào Bách Khoa một cách ưu tiên, nhưng nó không vào, nó đi ra nước ngoài để học. Một cậu ở Bách Khoa nói với tôi: may mắn là cháu đi học, bởi vì tôi là Hiệu phó phụ trách về giáo dục thì thấy không kiểm soát được, vì có tiền là có điểm thôi. Ngô Việt Trung là nhà toán học, gặp tôi và nói: cháu phải cho con đi ra nước ngoài, vì nó học ở Tổng hợp thì mua được điểm. Thằng nhóc nhà tôi nói: chỉ ở Tổng hợp có bộ phận của nó được hưởng tốt, nhưng lệch lạc là đội tuyển đi thi quốc tế, bị thành một anh thợ làm toán chứ không phải đào tạo nhà toán học. Số tiến sĩ rất nhiều, có lẽ tỷ lệ tiến sĩ của mình cao lắm, một trong những tỷ lệ cao ở khu vực nay.
Hiện tượng thứ 5: nội hàm của trí thức thì nội hàm hiện đại rất yếu, mà kiến thức cổ cách đây 50 năm. Đây là lực lượng gọi là con người, mạnh nhất phải vươn lên để dẫn đầu khu vực. Nhưng con người nằm trong hệ thống đào tạo thì đang khủng hoảng giống như thầy phù thuỷ triệu âm binh nhưng không điều khiển được âm binh. Nền giáo dục của ta có điều khiển được không? Hệ quả tai hại không phải là con người Việt Nam đang thiếu trí tuệ. Hệ thống điều hành làm cho nó tê liệt đi. Nhưng nếu cùng con người ấy cho ra ngoài thì nó nên người. Nhưng than ôi, ngay ra nước ngoài cũng thế. Tôi theo dõi bên đoàn thanh niên thì 15% rất giỏi. Nói chung về xây dựng con người, tạm thời chúng ta chưa thành công. Vấn đề con người đáng lẽ là chỗ mạnh nhất của chúng ta thì chúng ta lại chưa thành công. Chúng ta đã có thời kỳ thành công, đó là thời kỳ cách mạng Tháng Tám. Từ một gia tài đế quốc để lại, chúng ta xây dựng lên sự nghiệp, tiến hành cuộc đấu tranh. Xây dựng tất cả các mặt đều giữa những hạn chế. Chúng ta đều có những chuyên gia, đội ngũ chuyên gia có tầm vóc. Nhưng than ôi, cái này hiện nay đang tha hoá. Đáng lo lắm, lo nhất là thiếu người có tầm cỡ cầm chịch. Không phải là lo ở một con người cụ thể, mà lo cả về mặt quan niệm và cơ chế của chúng ta. Nó cản đường cho lớp trẻ, có người giỏi cũng không được dùng.
Vấn đề thứ tư của Đảng có nguy cơ rất lớn, tức là trong Đảng hình thành một tầng lớp giầu có và có lợi ích riêng.
Ngành nào cũng thế, địa phương nào cũng thế. Xã hội hiện nay có 2 lực lượng. Một là lực lượng xã hội đen (Năm Cam cũng như Lã Thị Kim Oanh là một biểu hiện của xã hội đen, đang mọc lên như nấm), chúng ta thấy được một chừng mực nào. Nhưng xã hội đen này lại nằm ngay trong nội bộ của chúng ta – không phải là tất cả - nhưng ngành nào cũng có và ở ngành quan trọng. Tôi xin lưu ý qua vụ Năm Cam, người ta nói ngành công an, ngành kiểm soát bị tổn thương nặng. Dư luận xã hội lưu ý đến ngành tổ chức. Tại sao những tội phạm như thế lại đưa vào Trung ương và có phải chỉ có 2 người ấy không, hay là còn ai nữa. Những người có trách nhiệm nói với tôi rằng trong ngành công an hiện nay ở cấp cao cũngcòn nẵm, nhưng ngại không đưa ra. Hạn chế thôi. Ngành nông nghiệp hiện nay không phải chỉ có 2 ông Thứ trưởng. Trong Quốc Hội, ông Dũng tuyên bố ở cấp nào cũng có. Tôi hỏi ông Vũ Mão là nói ai đấy. Vũ Mão có nói tên cụ thể với tôi. Huy Ngọ cũng nói tên cụ thể. Nhưng tôi không tiện nói ở đây. Như vậy hệ thống tổ chức có vấn đề. Trong cơ cấu lãnh đạo chủ chốt hiện nay có người đặt vấn đề như vậy. Bây giờ nói nội bộ, các đồng chí cũng đừng ghi làm gì. Cột trụ có đứng được không? Nếu cột trụ không đứng được thì Hội nghị giữa nhiệm kỳ có xử lý không ? Tức là phải chuẩn bị cho có sự thay đổi. Như vậy rõ ràng ở cấp cao có một sự khủng hoảng nào đó. Sự khủng hoảng biểu hiện 2 cái. Thứ nhất là biểu hiện có một tầng lớp giầu có và có quyền lực trong tay. Một số người nói hơi quá là có hiện tượng buôn bán quyền lực. Quyền lực trở thành thứ tư bản, người ta kinh doanh và bắt nó phải đẻ ra lợi tức. Có hay không, tôi chưa rõ. Đây là hiện tượng xã hội, người ta đặt ra vấn đề, người ta quan tâm và nhiều người đến trao đổi với tôi.
Thứ hai là có sự tha hoá ở cấp cao chiến lược. Đấu tranh nội bộ lẫn nhau và kích cá nhân chi phối đến mức tố cáo nhau. Đến mức biến những cơ quan như Tổng cục 2 trở thành một công cụ cá nhân, diệt nhau. Do vậy có phải hiện tượng không lành mạnh không? Tôi đã phát biểu với Bộ Chính trị một bản chính thức (tôi có mang đây) dưới dạng đánh giá Đại hội 9 và những vấn đề tôi nói hôm nay phần lớn là ở trong bản kiến nghị. Riêng vấn đề nhân sự cấp cao tôi nói một ít. Đây có phải tổng kết rút kinh nghiệm không ? Tôi cũng may mắn được liệt vào loại các đồng chí cũ (lão thành trẻ) được sinh hoạt với các cụ thì thấy được. ở đây có vấn đề lớn của Đảng là sự khủng hoảng nhân sự ở cấp chiến lược, khủng hoảng về quan điểm, khủng hoảng về cơ chế, về sự giám sát. Chưa làm cho lòng tin có thể đạt được, dẫn dắt được.
Điều thứ năm trong Đảng là tính thụ động của các tổ chức.
Đảng viên tốt là chủ yếu, chi bộ tốt là chủ yếu. Nhưng không một tổ chức Đảng nào có khả năng tự mình nêu được vấn đề và khắc phục những nhược điểm cơ bản. Ví dụ như về vấn đề tham nhũng thì không có chi bộ nào có sức đấu tranh chống tham nhũng. Về dùng người thì không một chi bộ nào không có ý kiến, nhưng ý kiến đó trôi đi. Khi về hưu thì chi bộ đường phố xuống cấp kinh khủng. Tôi nói thế này, người ta doạ: ông Bí thư chi bộ dưới sự lãnh đạo của Bí thư phường đưa ra một thông báo về vấn đề có 8 đại tá ở Ba Đình có liên quan đến Phạm Quế Dương và sẽ đưa ra xử, tức là 8 đại tá có thể làm gián điệp… Tôi hỏi các đồng chí 2 vấn đề: thứ nhất là họ đã có kết luận là gián điệp chưa mà ta đã công bố. Khi toà án chưa tiết lộ thì họ vẫn là người không có tội. Nếu một khu có 8 đại tá làm gián điệp thì đáng nghiên cứu lắm. Tại sao người vào sinh ra tử như thế mà bây giờ làm gián điệp, tay sai, thế thì chết. Mình chỉ dám hỏi ông Bí thư chi bộ thôi, không dám nói công khai. Tôi hỏi Bí thư phường thì bảo đây là chỉ thị của Quận.
Tôi xin lưu ý đối với Đảng có 5 vấn đề như vậy
Bây giờ tôi xin nói về vai trò của học thuyết. Tôi không có ý định bác bỏ học thuyết Mác. Có một học giả, người nước ngoài khi tôi vào Nam, mời tôi đi ăn ở khách sạn Thế giới mới. Bên cạnh có một học giả nữa. Họ mới sang, họ nhận ra tôi. Họ hỏi: ngài có phải là Đặng Quốc Bảo – Nguyên Bí thư thứ nhất đoàn thanh niên cộng sản không ? Nguyên uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng không ? Tôi bảo đúng. Họ tự giới thiệu họ là học giả đi Trung Quốc, rồi qua Việt Nam muốn phỏng vấn tôi. Tôi nói nếu ngài cần trao đổi, tôi sẵn sàng, nhưng tôi chưa sẵn sàng phỏng vấn để công bố. Tôi trả lời các ngài với tư cách là nhà khoa học, là người công dân Việt Nam. Họ hỏi 4 câu hỏi:
* Câu thứ nhất: Việc các ngài trước kia coi Mỹ là đối thủ, là đối tượng, là kẻ thù. Bây giờ các ngài bắt tay với Mỹ, như vậy có phải các ngài thay đổi đường lối không ?
- Tôi trả lời: Tôi bắt tay các ngài là nhu cầu lịch sử, của hai dân tộc chúng ta. Muốn tồn tại thì bắt tay nhau thôi, không có đối lập với nhau.
* Câu thứ hai: Các ngài bắt tay chúng tôi thì các ngài bắt tay với chủ nghĩa tư bản, vì chúng tôi là trùm chủ nghĩa tư bản thì các ngài có nghĩ là từ bỏ con đường chủ nghĩa xã hội không ?
- Tôi trả lời: nguyện vọng xã hội chủ nghĩa là một xã hội tiến bộ, làm việc cho con người, vì con người. Đó là nguyện vọng của nhân loại từ cổ chí kim đều có. Lúc nào cũng xuất hiện nguyện vọng này. Nếu loài người không có nguyện vọng muốn cho cuộc sống tốt đẹp hơn, cho con người mỗi ngày được giải phóng tốt hơn, mỗi ngày một đẹp hơn, là không muốn cho xã hội làm việc cho con người, vì con người. Nội hàm của xã hội mới là như thế. Nếu các ngài nói chúng tôi từ bỏ con đường này thì chính các ngài đang từ bỏ. Tôi nghĩ rằng đây là nguyện vọng chung của mọi người lương thiện ở mọi nước chứ không phải chỉ ở dân tộc chúng tôi.
* Câu thứ ba: tôi nghe nói ngài có ý kiến khác với lãnh đạo của ngài có đúng không ?
- Tôi trả lời: Ngài hỏi một câu hỏi ngớ ngẩn. Sự khác nhau ý kiến giữa chúng ta, giữa nhân loại là điều kiện để nhân loại tiến lên; nếu chỉ có thống nhất, đồng nhất với nhau, đó là sự huỷ diệt. Sự khác nhau trong một tổ chức là chuyện bình thường. Chúng tôi thống nhất nhau trong hành động. Có ý kiến khác nhau, đó là quyền của mỗi chúng tôi. Mục đích của chủ nghĩa cộng sản, của chủ nghĩa xã hội, học thuyết chúng tôi là giải phóng con người, trả lại tự do cho con người. Tôi nói điều này thật tâm của tôi.
* Câu thứ tư: Ngài đi con đường ấy, ngài có hối hận không ?
- Tôi trả lời: Không bao giờ hối hận cả. Quan điểm của tôi cũng như của gia đình, các con và các cháu đi theo một con đường tiến bộ, đó là một nguyện vọng. Nếu nói về lịch sử nhân loại thì nhân loại chia ra làm 3 giai đoạn lịch sử. Cổ sử khoa học chưa phát triển cho nên những công trình nghiên cứu khoa học ấy còn ít. Nhưng nguyện vọng của con người muốn có một xã hội ngày mai tốt hơn – ngày hôm nay. Vì vậy người ta cần viết lịch sử, lấy những điển hình của lịch sử, của một con đường đi. Điển hình như xã hội phương Đông thì nhiều nhà hiền triết tổng kết, trong đó có Nho giáo. ở Nho giáo, Khổng Tử tổng kết: để đi đến một lý thuyết về người quân tử, kẻ tiểu nhân. Người quân tử là người vì lợi ích chung, vì lợi ích của cộng đồng. Kẻ tiểu nhân là sống vì lợi ích cá nhân. Khái niệm ấy là khái niệm cổ xưa, làm cơ sở cho nền đạo đức chi phối xã hội, làm nền cho xã hội phát triển. Nhưng nó không làm nền được. Người ta nói thuật làm người phải dựa vào học thuyết này. Người ta lại sáng tạo, lại tổng kết một quan niệm mới. Đó là cách xưng bá. Tiêu biểu của quan điểm này là Hàn Phi Tử, tức con người có mặt lợi ích của nó. Vì con người có lợi ích, nên lợi ích là cơ sở của mọi cái. Cho nên phải dùng một quy chế ràng buộc để kiềm chế con người. Đó là cái dấu vết đầu tiên về Nhà nước pháp quyền.
Cùng với thời kỳ này thì Platon cũng kết luận như vậy. Ông Platon là bố đẻ của Nhà nước pháp quyền trong lịch sử. Phương Đông là Hàn Phi Tử. Qua điều này ta thấy nguyện vọng của con người không bằng lòng với cái hiện nay, bao giờ cũng muốn tương lai tốt hơn. Đến thời kỳ công nghiệp phát triển thì xuất hiện nhà tư tưởng vĩ đại là ông Mác. Cái vĩ đại của Mác là tổng kết lịch sử, thấy những tư tưởng của các nhà hiền triết đều thuộc phạm trù của thượng tầng kiến trúc. Cho nên Mác đưa ra vấn đề lấykinh tế làm cơ sở. Dự báo thiên tài của Mác là đến một lúc nào đó khoa học sẽ trở thành một bộ phận của lực lượng sản xuất. Điều đó trong thế kỷ 21 đã hiển hiện. Mác cũng phát hiện ra cái đau khổ của nhân loại chính là cái tư hữu tư liệu sản xuất, cho nên Mác đẻ ra lý thuyết của mình, đó là sự phát triển kinh tế làm cơ sở. Sự đau khổ của nhân loại chính là sự độc quyền tư liệu sản xuất. Cho nên ông đưa ra lý thuyết: lấy công hữu làm cơ sở, làm nền tảng của xã hội. Trong một công trình của Mác nói là: sự tha hoá của con người chính là bắt đầu sự tha hoá trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất. Tôi nghĩ rằng cái đó cũng đúng, nhưng có một khuyết tật, tức là Mác chưa chú ý đến kết luận của Ađam Xmít về vấn đề tư hữu. Chính sự tư hữu ấy là sự sáng tạo của con người mà nó đảm bảo cho con người thoát khỏi sự chi phối của tự nhiên, vì nhờ có sự tư hữu mới có tích luỹ được. Tư hữu chính là động lực đầu tiên. Muốn xoá bỏ sự tư hữu ấy thì thì phải có động lực gì để thúc đẩy sự phát triển. Vấn đề là phải xác định một cách chính xác khoa học mối quan hệ giữa tư hữu và công hữu. Tuyệt đối hoá cả hai cái đều không đúng, nhưng hai cái hỗ trợ cho nhau, cái lý thuyết ấy tôi tiếp cận và tôi đi theo. Lý thuyết về vai trò của giai cấp công nhân, tôi giác ngộ tôi cũng thấy được. Hiện nay vai trò giai cấp công nhân như thế nào. Tôi sẽ nói ở phần sau, theo quan điểm của tôi. Trong việc tôi trả lời tôi đi theo chủ nghĩa Mác, đó là thực tế, trước kia và bây giờ cũng thế. Chủ nghĩa Mác đối với tôi không phải là một giáo điều. Khoa học với tôn giáo chỉ khác nhau có một điểm thôi. Tôn giáo thì đứng lại và tuyệt đối hoá. Khoa học thì luôn luôn phát triển. Tôi đi theo Mác là đi theo một khoa học phát triển. Nhưng tôi không lấy những cái bảo vệ những tư tưởng của ông Mác trở thành một mục tiêu lớn nhất của tôi. Đất của bản thân tôi là đất nước Việt Nam, là con người Việt Nam cụ thể. Mục tiêu của tôi là tham khảo ông Mác, biết ơn ông, ông là nhà hiền triết đầu tiên giác ngộ cho mình thấy được vấn đề. Ông Mác cũng là người cung cấp những kiến thức cơ bản, những phương pháp luận đầu tiên cho mình. Nhưng bây giờ ngay về kiến thức cơ bản thôi cũng phát triển. Thí dụ như duy vật biện chứng là phần ổn định nhất của Mác mà bây giờ vẫn còn nguyên giá trị. Nhưng nó không phải là phương pháp duy nhất. Thí dụ nhân loại bây giờ họ thấy phương pháp tiên tiến không phải là lôgíc mà là phương pháp xác xuất và đột biến. Bản thân lôgíc phải tự điều chỉnh theo lôgíc. Còn sự vật lại luôn luôn ở trong trạng thái động. Cho nên trong sự vật, xác xuất có vị của nó. Như thế không có nghĩa là ông Mác sai. Có nghĩa là chúng ta mở rộng ra, thấy phải bổ sung, còn duy vật biện chứng của ông Mác là đúng hoàn toàn, chính xác. Nhưng nếu lý luận của Mác là cao nhất, là mục tiêu chúng ta phải không bao giờ được đi tới kết luận đó, thì có nghĩa là chúng ta phản ông Mác. Phải từ thực tiễn phát triển để bổ sung những cái mới cho chủ nghĩa Mác, như vậy mới làm cho chủ nghĩa Mác có sức sống. Cũng như nghề võ. Ông võ sư nghề võ có công, nhưng những đệ tử luôn luôn phải phát triển để trở thành một trường phái, một võ học. Bản thân tôi cũng đi theo một trường học này. Tôi cũng đặt cho tôi 1 nhiệm vụ là không xoá bỏ ông ấy mà góp phần vào làm sáng tỏ những vấn đề thời kỳ ông Mác chưa phát triển.
Nếu coi chủ nghĩa Mác như một thứ kinh thánh, chỉ tụng kinh và theo thôi thì sai lầm. Vì vậy vai trò của giai cấp công nhân như thế nào? Qua kinh nghiệm quan sát cả một cuộc đời tôi thấy giai cấp công nhân là người đi đầu trong đấu tranh chống áp bức, chống bóc lột, bảo vệ quyền lợi của mình và của dân tộc. Cái đó hoàn toàn đúng. Điều mà tôi hoài nghi là giai cấp công nhân có phải là lực lượng chi phối thế giới, lãnh đạo thế giới hiện nay và tương lai không? Tôi quan sát trong lịch sử của thế kỷ 20, tôi phát hiện 3 vấn đề và cũng không phải cái gì mới: thứ nhất, học thuyết lớn nhất mà Mác đưa ra không phải từ giai cấp công nhân phát hiện ra mà là giới trí thức. Thứ hai vai trò chi phối ấy (nếu mà có lúc nào chi phối) là vai trò của Đảng cộng sản, mà nhân danh là đại diện của giai cấp công nhân, bộ tham mưu cho giai cấp công nhân. Thứ ba là khái niệm giai cấp công nhân cũng là khái niệm lịch sử. Đã là khái niệm lịch sử thì có sự thay đổi. Theo tôi quan sát thì lực lượng sản xuất hiện nay mà giai cấp công nhân là tiêu biểu có sự biến động. ở những nước phát triển lực lượng công nhân đang có xu thế là sản xuất trực tiếp giảm đi. Những nhà máy tiên tiến, tiến bộ lực lượng ấy vào khoảng từ 15-20% chuyển sang điều khiển. Lực lượng chi phối nền sản xuất là lực lượng dịch vụ. Có 6 loại dịch vụ bây giờ đang chi phối:
- Thứ nhất là dịch vụ thị trường, tức là cảm nhận thị trường, tìm thị trường.
- Thứ hai là dịch vụ tài chính, tức là hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán, hệ thống tín dụng và hệ thống tài chính. Dịch vụ này cực kỳ quan trọng, dịch vụ vốn, tài chính.
- Thứ ba là dịch vụ công nghệ thuộc các nhà khoa học.
- Thứ tư là dịch vụ điều hành, tức là mạng điều hành tự động
- Thứ năm là dịch vụ hạ tầng như điện, giao thông vận tải, v.v…
- Thứ sáu cực kỳ quan trọng đó là dịch vụ nhân lực. Trong nhân lực lại có 2 loại nhân lực. Bình thường là nhân lực cấp cao, vì vậy bây giờ công ty kinh doanh nhân lực cấp cao, tức là kinh doanh năng lực các nhà bác học, các tổng công trình sư, các nhà sáng tạo. Theo một tài liệu của nước Đức công bố mà tôi đọc cách đây vài ba hôm, quyết định của nước Đức có nhiều điểm, trong đó có 3 điểm nổi bật. Thứ nhất là chất lượng của lao động chung; thứ hai là chất lượng của bác học, tổng công trình sư, tức là loại cao cấp; thứ ba là chất lượng của chính khách, tức là người điều hành. Đây là những chất lượng chi phối xã hội và sự phát triển của xã hội.
Vì vậy dịch vụ đào tạo và dịch vụ nghiên cứu khoa học trở thàn dịch vụ then chốt, nó quyết định bộ mặt của đất nước, bộ mặt của tương lai, cho nên không phải ngẫu nhiên người ta nói rằng đào tạo khoa học là vấn đề chiến lược, là bộ mặt và tương lai của đất nước.
Như vậy, chức năng của giai cấp công nhân của lịch sử đặt ra có một sự chuyển biến. Vì vậy khái niệm giai cấp công nhân hiện nay vẫn còn sức sống, nhưng trong dự báo tương lai thì chúng ta phải điều chỉnh nó. Vì vậy nói giai cấp công nhân có chức năng dẫn dắt của thế giới cần phải lưu ý và giai cấp công nhân là cơ sở đào tạo ra các chính khách thì cũng phải lưu ý.
Tôi xin lưu ý đây là một đề tài. Theo tôi thì cách đặt vấn đề là lao động trí tuệ, lao động là điều thiêng liêng nhất, cơ bản, hữu ích nhất. Lao động trí tuệ là sự phát triển tất yếu. Nếu nói trong lịch sử sự phát triển đi lên của nhân loại thì nói lao động biến khỉ thành người vừa là đúng, vừa là sai. Là đúng vì lao động đã tham gia hoàn thiện nhân cách con người và tạo ra năng lực của con người. Là sai vì 2 điểm: thứ nhất con người từ một loại khỉ gần gũi con người biến thành con người thì do cái tín hiệu di truyền sai lầm, tạo nên sự phát triển đột biến, mà trong đột biến có 300 cái gien của bộ não, hoàn thiện bộ não mà có con người. Trong những cái gien ấy thì có một loại gien tạo cho con người có tiếng nói. Cho nên con người với bộ não phát triển đặc biệt ấy chính là cơ sở chứ không phải là lao động. Vì vậy trong loài sinh vật có 2 loại động lực. Động tác, thao tác tự nhiên để sống thì đó là động tác loài vật và con người bẩm sinh đã có. Còn động tác thao tác trí tuệ là tiền đề tạo nên nền khoa học và nền văn hoá, nó là chữ viết của con người, của bộ não, chứ không phải lao động chân tay. Về ý nghĩa này ta thấy hoạt động của bộ não và tiếng nói quyết định và trong sáng tạo quyết định của con người, đó là sáng tạo chữ viết, kèm theo chữ viết là sáng tạo ra chữ in và kèm theo sự phát triển hiện nay là mạng internet, mạng thông tin. Cái đó là cái sáng tạo cực kỳ quan trọng, chủ yếu. Nó tác động vào phát triển nền văn hoá. Một trong những thành tựu lớn nhất của con người tạo nên đó là môi trường sống của con người khác với hệ thống động vật. Đó chính là nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng. Vì vậy nó đã tạo ra một cơ sở công nghệ hiện nay.
Bản chất hoạt động của con người tạo nên một sự kỳ diệu, đó là hoạt động trí não, trí tuệ. Giá trị lớn nhất hiện nay của con người là giá trị văn hoá. Trong tất cả các giá trị của nền văn hoá ấy có nền văn hoá mới có mấy đặc trưng quyết định, và ta hết sức chú ý đến mấy yếu tố: yếu tố đại nhân văn, yếu tố sự cân đối thừa nhận tính đa dạng, thừa nhận sự tư duy không giống nhau để phát triển. Yếu tố trái đất là một làng, mỗi dân tộc là một xóm. Yếu tố đó tạo nên tiềm năng cho mỗi dân tộc đi lên. Nếu nói rằng giai cấp công nhân là người chi phối thế giới, tôi nghĩ rằng khái niệm này cần có sự điều chỉnh cho thích hợp. Tôi nói như thế không phải tôi phản bội ông Mác, mà vì những yếu tố nhận xét ở thời điểm ấy chưa chín muồi. Tôi xin lưu ý thế kỷ 19 giới khoa học cho rằng thiên nhiên là bất tận, cho nên khai thác là bất tận. Nhưng mãi sang đến thế kỷ 20, nửa sau thế kỷ 20 người ta mới thấy những cái không bất tận. Môi trường học phát hiện ra rằng trái đất có khả năng tự động điều chỉnh. Nhiều biểu hiện tự động điều chỉnh như ở miền biển tự nhiên tạo ra một loại tảo mới rất nhanh. Khi nền công nghiệp châu Âu phát triển hay khi rừng Amazôn cháy, nó tạo ra loại tảo này. Cũng như các bờ biển Đại Tây Dương của nước Mỹ tạo ra loại tảo này. Qua đó ta thấy nó có sự điều chỉnh để tự cân đối, nhưng nếu hoạt động của con người vi phạm quá trình đó