Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Điện Thư - Số 15
Tháng 12 năm 2003
Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Như đã minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam - Chắc Chắn Đồng Lòng Sẽ Bẻ Gãy Họng Súng Của Độc Tài. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam@yahoo.com
----- O -----
Nguyễn Vũ Bình nhắn qua cổng trời: "Mong các bác nhớ giữ gìn sức khoẻ để lo việc đất nước. Các bác hãy xiết chặt hàng ngũ đưa phong trào Dân chủ-Tự do tiến lên vững mạnh!!" - "Cựu chiến binh Quyết tử Trần Dũng Tiến bị giam tại buồng số 1 tại Nhà tù Hoả lò Mới ở Cầu Diễn. Những tháng bị giam đầu tiên Trần Dũng Tiến liên tiếp tuyệt thực nhiều lần và la hét lên án chính quyền Nhà nước, các buồng giam kề bên đều nghe rõ. Những ngày phải đi cung có CA dẫn khi đi qua cửa buống số 3 là nơi giam Nguyễn Vũ Bình, tức thì Nguyễn Vũ Bình lớn tiếng dặn "Bác giữ vững tinh thần nhá!". Ngày nào qua đó Nguyễn Vũ Bình cũng dặn như vậy."
Bài Bào Chữa Cho Chồng
Nguyễn Vũ Bình với tội danh gián điệp
Kính gửi: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.
Hội đồng xét xử.
Ông thẩm phán – chủ toạ phiên toà
Tôi tên là: Bùi Thị Kim Ngân
Nghề nghiệp: Kế Toán
Địa chỉ: Số nhà 26 tổ 67 B -Vĩnh Tuy – Hai bà Trưng- Thành phố Hà Nội.
Chồng tôi là: Nguyễn Vũ Bình, sinh ngày 2 tháng 11 năm 1968, nguyên là biên tập viên Tạp chí Cộng sản, bị cơ quan an ninh bắt ngày 25 tháng 9 năm 2002. Từ đó đến nay hơn 15 tháng chưa một lần được gặp vợ, con cũng như người thân thích, sẽ bị đưa ra xét vào ngày 31 tháng 12 năm 2003 với tội danh ghi trong cáo Trạng: Tội gián điệp.
Thưa ông thẩm phán: Lê Thanh Bình – Chủ toạ phiên toà xét xử vụ sơ thẩm ông Nguyễn Vũ Bình.
Sau khi được biết Viện Kiểm soát nhân dân thành phố Hà Nội khép tội chồng tôi vi phạm vào điều 80 Bộ luật hình sự nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam- tội gián điệp. Cụ thể trong cáo trạng có ghi như sau:
Tôi: Bùi Thị Kim Ngân, với tư cách là vợ, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Vũ Bình tôi xin được làm bào chữa viên nhân dân cho chồng tôi – Nguyễn Vũ Bình.
1. Viết đơn xin thành lập Đảng tự do dân chủ ...
Sau khi phân tích, đánh giá, nhận thức thấy nền kinh tế Việt Nam có thể rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng, mong muốn giảm thiểu những tổn thất nhân dân phải gánh chịu, nên đã viết đơn xin thành lập Đảng Tự do – Dân chủ. Lá đơn ông Nguyễn Vũ Bình viết đã gửi tới các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước Việt Nam một cánh công khai và xin phép đàng hoàng. Điều 67 Hiến pháp Việt Nam "Công dân có quyền tự do lập hội …. Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó” – Vì vậy không thể kết tội ông Nguyễn Vũ Bình vào tội gián điệp. Chính cơ quan an ninh và Viện kiểm soát đã vi phạm hiến pháp, cố tình làm sai hiến pháp.
Mặt khác theo tôi được biết việc muốn thành lập Đảng phải có cương lĩnh, điều lệ, phương thức hoạt động. Ông Nguyễn Vũ Bình chưa có các điều kiện trên chưa thể lập được Đảng. Qui tội gián điệp ở đây là vô căn cứ.
Lịch sử Việt Nam cũng đã từng có Đảng dân chủ. chính Đảng này đã tồn tại một thời gian tương đối dài và có nhiều đóng góp trong công cuộc cách mạng của Việt Nam. Những người cầm đầu Đảng dân chủ hiện nay vẫn giữ một số vị trí quan trọng của đất nước Việt Nam và để lại trong lòng người dân Việt Nam sự kính trọng và quý mến. Tại sao Viện kiểm soát lại cho rằng việc thành lập Đảng dân chủ là xấu, là chống lại Đảng cộng sản ? Có phải Viện kiểm soát quan liêu đã đưa ra những lời lẽ như trong cáo trạng.
2. Liên hệ với các phần tử chống Đảng, bất mãn …
Tôi xin được hỏi điều luật nào cấm con người đi lại, quan hệ với nhau ? Các Ông như Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang … có báo chí, cơ quan Truyền thông hoặc văn bản nào thông báo về tội danh cũng như hoạt động chống phá Đảng của các ông ấy không ? Các ông ấy thông tin nói xấu chính phủ như thế nào, mức độ và tác hại ra sao ?. Tại sao không thấy cho người dân đọc các bài nói xấu đó ?. Dựa vào chứng cứ này để kết tội ông Nguyễn Vũ Bình vào tội gián điệp là một việc làm hết sức quan liêu của cơ quan điều tra cũng như viện kiểm soát. Tôi xin bác bỏ.
3. Ký tên xin thành lập "Hội nhân dân chống tham nhũng"…
Thưa hội đồng xét xử, trong bài viết Việt nam và con đường phục hưng đất nước, có đoạn ông Nguyễn Vũ Bình viết: "Tình hình tham nhũng trở thành quốc nạn tham nhũng đã được Đảng, Quốc hội và nhân dân thừa nhận”. Đó là cách đánh giá đúng đắn của ông Nguyễn Vũ Bình. Chính vì nạn tham nhũng hoành hành nên mới có một số cán bộ cao cấp bị đưa ra toà như Trần Mai Hạnh, Bùi Quốc Huy trong vụ án Năm Cam. Gần đây nhất là bộ trưởng Bộ nông nghiệp và một số quan chức khác trong vụ Lã Thị Kim Oanh. Từ nhận thức đó ông Nguyễn Vũ Bình cảm thấy nó nhức nhối như một khối ung nhọt, ông Nguyễn Vũ Bình muốn đóng góp trí tuệ, sức lực để gọt bỏ khối ung nhọt đó đi vì vậy mới ký kết vào lá đơn xin thành lập "Hội nhân dân chống tham nhũng”. Đây là một việc làm tích cực có mục đích tốt đáng được hoan nghênh, động viện khích lệ. Thì lại bị cơ quan an ninh và Viện kiểm soát vu cho là có động cơ xấu nhằm xây dựng lực lượng chống Đảng. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét kỹ vấn đề đánh giá xem ông Nguyễn Vũ Bình hay các cơ quan kia có mục đích xấu ?
4. Móc nối với các phần tử bên ngoài …
Ông Nguyễn Vũ Bình không móc nối, những người Việt kiều đó tự liên hệ và làm quen như trong bản cung đã khai. Trong luật có ghi tội gián điệp là phải quan hệ cung cấp tin tức cho nước ngoài. Trong từ điển định nghĩa: nước ngoài phải là một chính phủ, một quốc gia, một tổ chức của một đất nước khác nói tóm lại không phải là người Việt Nam, tổ chức của người Việt, hay chính phủ Việt nam. Hơn nữa các cá nhân người Việt ở nước ngoài như ông Nguyễn Gia Kiểng, bà Ngô Thị Hiền, ông Nguyễn Ngọc Đức, ông Trương Minh Dũng, ông Tấn Lực. Tôi chưa hề thấy chính phủ Việt Nam cũng như các quốc gia hiện nay họ đang cư trú có một bản án nào về những hoạt động bất hợp pháp của họ. Nếu ông Nguyễn Vũ Bình có quan hệ với họ thì cũng không thể kết tội ông Nguyễn Vũ Bình là Gián điệp.
Mặt khác việc trao đổi thư từ điện tử. Điều nào trong luật pháp cấm người dân sử dụng thư điện tử ? Trong cáo trạng có ghi trao đổi thư điện tử để cung cấp tin tức cho họ chống phá nhà nước. Tôi xin hỏi tổ chức nào đã chống phá nhà nước ? Mức độ chống phá thế nào ? Những tin tức đó không phải là tin tức bí mật. Những thư điện tử đó theo tôi đó chỉ là trao đổi quan điểm của mỗi cá nhân về vấn đề dân chủ và tình trạng nhân quyền mong muốn đi tới một tương lai tốt đẹp để có thể ngẩng cao đầu tự hào với năm châu bốn biển về đất nước Việt Nam cũng như con người Việt Nam. Đó là những quan điểm tích cực. Tôi mong muốn các ông nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, để không khép ông Nguyễn Vũ Bình vào tội danh gián điệp.
5. Về vấn đề Biên giới Việt –Trung ...
Quốc gia nào cũng đều có đường biên để phân biệt rõ ràng địa phận cũng như quyền sở hữu của mỗi một quốc gia. Việc ký kết một hiệp định về vấn đề biên giới là một việc hết sức quan trọng. Tôi xin hỏi trước khi chuẩn bị ký kết chính phủ đã trưng cầu ý dân chưa ? Vì mỗi tấc đất là của dân tộc, của nhân dân và người dân đã đổ bao nhiêu xương máu để bảo vệ cho sự toàn vẹn lãnh thổ. Cụ thể năm 1979 bao nhiêu người dân Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía Bắc, điều đó đã đi vào lịch sử. Nếu việc thực hiện trưng cầu ý dân khó khăn không thực hiện được thì sau khi ký kết hiệp định cũng nên công bố một cách công khai và minh bạch cho toàn thể người dân Việt Nam được biết. Nhưng điều đó ông Nguyễn Vũ Bình cũng như toàn thể người dân Việt Nam không hề được biết. Sau khi hiệp định biên giới Việt Trung được ký kết thì bất kỳ người dân Việt Nam nào qua cửa khẩu Lạng Sơn đều thấy cột mốc Hữu nghị Quan không còn nằm ở vị trĩ cũ mà đã lùi sâu vào bên trong sang phía đất Việt Nam. Rồi Thác Bản Giốc cũng bị chia đôi … Bất kỳ một người dân Việt Nam có lòng yêu nước và có trách nhiệm với đất nước đều cảm thấy đau lòng vì cha ông, con cháu họ đã đổ bao nhiêu xương máu để bảo vệ từng tấc đất, không những thế quyền lợi của người dân cũng bị mất vì một số danh lam thắng cảnh đẹp của Việt Nam trước kia nay cũng bị chia xẻ. Chồng tôi – bị cáo Nguyễn Vũ Bình, là một công dân Việt nam yêu nước trước sự việc đó hỏi không đau lòng làm sao được ? Chính vì thế ông mới viết bài lên tiếng mong mọi người có tiếng nói để bảo vệ quyền lợi cho đất nước cho dân tộc thì lại bị cơ quan an ninh và viện kiểm soát nhân dân thành phố Hà nội qui kết là cung cấp tin tức cho bên ngoài để nhằm phá hiệp định biên giới Việt Trung. Để rồi buộc tội ông Nguyễn Vũ Bình vào tội gián điệp. Điều này là vô căn cứ, tôi xin toà loại bỏ.
6. Viết Bản điều trần về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam gửi cho Quốc hội Mỹ ….
Thứ nhất: Ngày 19 tháng 7 năm 2002 nhận được lời mời của Bà Loreta Sanchez – Hạ nghị sĩ – Hạ nghị viện Hoa Kỳ. Ông Nguyễn Vũ Bình đã viết Bản điều trần về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam. Nội dung chỉ là bản sao lại những điều của một số công dân Việt nam đã cùng nhau làm đơn kiến nghị tập thể gửi cho các cấp lãnh đạo Đảng và nhà nước. Sự việc đó là có thật thì tại sao lại kết tội ông Nguyễn Vũ Bình là vu cáo – xin loại bỏ.
Còn việc tại sao lại gửi bản điều trần đó cho Quốc hội Hoa kỳ, có thể ông Nguyễn Vũ Bình suy nghĩ những sự việc trên đã gửi cho các cấp lãnh đạo nhưng bị lờ đi vì thế ông Nguyễn Vũ Bình gửi bản điều trần cho Quốc hội Mỹ mong muốn có một giải pháp tốt đẹp hơn ? (chẳng hạn trong nhà có chuyện lục đục mãi không thể hoà giải được thì phải đưa ra tổ dân phố, tổ hoà giải …)
Mặt khác, nếu kết tội chồng tôi - ông Nguyễn Vũ Bình cung cấp Bản điều trần cho quốc hội Mỹ là phạm tội gián điệp. Thì xin các ông chứng minh bằng cách mời Hạ Nghị viện Mỹ cử người sang đối thoại một cách cởi mở trên tinh thần của chính phủ đã đưa ra cụ thể là mời bà Loreta Sanchez người đã mời ông Nguyễn Vũ Bình sang để giải trình cho rõ:
Còn nữa, nếu cơ quan an ninh và viện kiểm soát không chứng minh được Quốc hội Hoa kỳ đã dùng bản điều trần do ông Nguyễn Vũ Bình gửi để chống phá nhà nước Việt Nam như thế nào ? thì có nghĩa là các cơ quan đó đã tuỳ tiện kết tội ông Nguyễn Vũ Bình. Chính các cơ quan ấy mới là kẻ vi phạm luật pháp phải đem ra truy tố theo luật định.
7. Nhận tiền của nước ngoài …
Điều luật nào cấm người dân Việt Nam nhận tiền của Việt kiều ở nước ngoài ? Việc nhận tiền mang tính chất giúp nhau trong lúc khó khăn vì lúc đó ông Nguyễn Vũ Bình đã mất việc ở Tạp chí cộng sản không thể qui vào tội gián điệp được, xin quý toà loại bỏ. Một số ông bên an ninh nói không ai tự nhiên đem tiền đi cho người dưng. Xin hỏi: nếu không có lòng tương thân tương ái thì làm sao lại có sự giúp đỡ ủng hộ, viện trợ của một số nước cho Việt Nam ? Làm sao lại có sự ủng hộ vào quỹ người nghèo để giúp một số gia đình thoát khỏi cảnh gian nan trong lúc khó khăn ? Trường hợp ông Nguyễn Vũ Bình cũng thế, mất việc lại bị Tạp chí Cộng sản ghi trong lý lịch: "Có nhận thức sai về tình hình đất nước, không tin vào sự lãnh đạo của Đảng”, hòng chặn con đường xin việc của ông Nguyễn Vũ Bình. Thật sự ông Nguyễn Vũ Bình rất khó xin việc kể từ khi thôi ở Tạp chí Cộng sản. Nhiều lần đi tuyển ở các trung tâm giới thiệu việc làm để làm biên tập viên, một công việc mà ông Nguyễn Vũ Bình đã từng làm hơn 8 năm trời nhưng đều bị loại (không hiểu có một áp lực nào không ?). Rồi viết bài bình luận về bóng đá là môn thể thao mà ông Bình rất hâm mộ. Ông Bình rất có tư duy về bình luận bóng đá vì thế ông viết bài gửi đi với bút danh mang tên con gái, viết bài nào là được đăng bài đó nhưng rồi không hiểu sao cũng chỉ được vài lần. Rồi báo Thể thao Văn hoá gọi điện đến xin lỗi không đăng được với lý do nếu cứ đăng bài của ông Bình thì những phóng viên của báo sẽ không còn chỗ của họ trên trang báo. Thế là ông Bình lại không có việc. Chính những lúc khó khăn như thế mọi người mới giúp đỡ gửi tiền để giúp nhau trong lúc khó khăn. Số tiền đâu có nhiều, tổng cộng không hơn 500 USD không bằng một lần nhận hối lộ của một số vị quan chức đã bị đưa ra toà. Tại sao Viện kiểm soát và cơ quan an ninh lại qui vào tội gián điệp ? Tôi xin hỏi họ qui kết ông Nguyễn Vũ Bình nhận tiền để làm gián điệp dựa vào cái gì ? Xin hãy thôi ngay đi cái trò "ngậm máu phun người".
Tôi đề nghị hội đồng xét xử là nơi cầm cân nảy mực, có cách nhìn một cách khách quan nhất, công bằng nhất. Không vì một lý do nào đó, xét xử theo đúng pháp luật để không có một vụ án nào oan sai mang lại niềm tin trong mỗi người dân.
Kết luận:
Dựa trên những điều tôi đã bào chữa trên đây, chồng tôi - ông Nguyễn Vũ bình – vô tội.
Chồng tôi - ông Nguyễn Vũ Bình bản chất thật thà, đạo đức, luôn coi trọng điều ngay lẽ phải, thấy những gì ngang tai, trái mắt là không chịu. Biết là làm những việc đó, nói ra những điều đó sẽ phải hy sinh quyền lợi cá nhân, quyền lợi gia đình nhưng anh vẫn làm vì ý nguyện của anh là mong muốn cho toàn thể dân Việt Nam có cuộc sống tốt đẹp hơn, đất nước phồn vinh hơn.
Tôi đề nghị hội đồng xét xử tha bổng cho chồng tôi - ông Nguyễn Vũ Bình để ông sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình. Tôi và các con tôi đang cần có anh.
Kính mong hội đồng xét xử để có quyết đinh sáng suốt.
Hà nội, ngày 26 tháng 12 năm 2003
Bào chữa viên nhân dân
Vợ bị cáo
Bùi Thị Kim Ngân
Đồng kính gửi:
- Văn phòng Tổng Bí thư
- Văn phòng Chủ tịch nước
- Văn phòng Chủ tịch Quốc hội
- Văn phòng Thủ tướng chính phủ
- Toà án nhân dân tối cao
- Viện kiểm soát nhân dân tối cao
- Toà án nhân dân thành phố Hà nội
- Viện kiểm soát nhân dân thành phố Hà nội
- Các cơ quan thông tấn và báo chí
- Các bạn bè gần xa, những ai quan tâm
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, 25-12-2003
Kính gửi:
- Hội đồng xét xử Toà án Nhân dân Thành phố Hà Nội
- Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hà Nội
Tôi công dân Hoàng Minh Chính, sinh 16-11-1922, ngụ tại 26 Lý Thường Kiệt-Hà Nội, được gia đình bị cáo ký giả Nguyễn Vũ Bình đề cử làm Bào chữa viên Nhân dân, chiểu theo Bộ Luật tố tụng hình sự, điều 35, mục 1, tiết c. Và căn cứ Bộ Luật tố tụng hình sự có bổ sung ngày 9-6-2000, Điều 36, mục 2 có ghi: "Người bào chữa có quyền tham gia ... tranh luận tại phiên toà", và mục 3 có ghi: "Người bào chữa có nghĩa vụ dùng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, ... giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ". Với tư cách hợp pháp là Bào chữa viên Nhân dân của bị cáo ký giả Nguyễn Vũ Bình sẽ đưa ra xét xử tại phiên toà sơ thẩm Toà án Nhân dân Thành phố Hà Nội ngày 31-12-2003, tôi trân trọng đề nghị Toà án Nhân dân Thành phố Hà Nội gửi cho tôi, theo luật định, Giấy mời dự phiên toà sơ thẩm ngày 31-12-2003 để tôi làm trách nhiệm Bào chữa viên Nhân dân như luật định.
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Tôi xin phép gửi trước quí Toà bài Bào chữa của tôi về thân chủ là bị cáo ký giả Nguyễn Vũ Bình.
Cáo trạng Toà án quy kết bị cáo Nguyễn Vũ Bình vào khung hình phạt của Bộ Luật hình sự, Điều 80 -Tội gián điệp. Mục 1, điều 80 qui định phạt tù từ mười hai năm tới chung thân hoặc tử hình.
Trước hết, tôi đề nghị, cần khẳng định một nguyên tắc căn bản cho việc xét xử và tranh tụng, đó là:
Có lẽ không thừa nếu tôi nhắc lại rất vắn tắt vài điều quan trọng của phiên toà phát xít Hítle xét xử nghị sĩ cộng sản Bungari Dimitrov (thập niên 30 thế kỷ trước). Trong các bài góp ý với các phiên toà trước đây xử các nhà dân chủ, tôi đã dẫn chứng khá rõ vài điều đáng suy ngẫm của phiên toà đó nhưng tiếc rằng các cơ quan toà đã làm ngơ như không biết, đó là:
1/ Phiên toà phát xít Hitle xử cộng sản Dimitrov có tới 42 nhà báo trong nước và 82 nhà báo quốc tế dự đưa tin và bình luận suốt 100 ngày xét xử. Còn các phiên toà Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xét xử những nhà dân chủ Việt Nam thì không có một nhà báo nào được dự, chỉ xử vội vã trong có một ngày, thậm chí nửa ngày là tuyên án rồi đưa về nhà giam, chẳng khác gì làm thịt một gia cầm, gia súc. Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từng tuyên bố Dân Chủ gấp triệu lần chủ nghĩa tư bản, vậy phiên toà này có cho dăm bẩy nhà báo vào dự không ? Phiên toà xử bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Toà án không cho một người nào của gia đình bị cáo được dự, không một nhà báo nào được có mặt, xét xử kín mỉt mà chánh án cứ lớn tiếng nói như vậy là phiên toà công khai. Buộc bị cáo Phạm Hồng Sơn phải "phản đối phiên toà phạm pháp xử kín, yêu cầu huỷ bỏ phiên toà", rồi bị cáo Phạm Hồng Sơn bỏ đi ra ngoài không chấp nhận phiên toà đó.Vậy mà Toà vẫn cứ tuỳ tiện xử án, không có mặt bị cáo, rồi bắt bị cáo vào nghe tuyên ân. Bị cáo tuyên bố: "Phản đối bản án phi pháp !". Phiên toà kết thúc !. CA đưa tù nhân vô tội Phạm Hồng Sơn về nhà tù. Thật là một phiên toà trò hề đầy tội lỗi !. Liệu phiên toà xét xử bị cáo Nguyễn Vũ Bình ngày 31-12 sắp tới có tránh được vết xe đổ đó không ? Có tôn trọng pháp luật nhà nước và quốc tế không ?.
2/ Phiên toà phát xít Hítle xử người cộng sản Dimitrov có tranh tụng bình đẳng, tự do, theo phong cách dân chủ Tây Âu. Thí dụ bên nguyên đơn là Nhà nước phát xít Đức có một loạt nhân chứng nổi cộm như: Gơrinh - Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụ, Gơben - Bộ trưởng Tuyên truyền, và một số nhân vật chóp bu khác cuả chính quyền, họ có nhiệm vụ trước toà đưa ra các bằng chứng để buộc tội Cộng sản Dimitrov, nhằm kết tội Dimitrov là chủ mưu đốt trụ sở Quốc hội, phải nhận án treo cổ, qua đó để buộc tội Đảng cộng sản Đức và Chủ nghĩa cộng sản là tổ chức tội phạm, phản động đáng trừ khử. Bên bị đơn là: người cộng sản Dimitrov với tội danh kẻ chủ mưu cầm đầu vụ đốt Trụ sở Quốc hội, và một tên vô sản lưu manh bán mình làm tay sai cho chính quyền Quốc xã Đức tự nhận là kẻ đồng loã chịu sự chỉ đạo của Dimitrov trong vụ trọng án này ... Thủ tướng Gơrinh đã công khai tuyên bố trước phiên toà với Dimitrov rằng "cái giá treo cổ đang chờ sẵn !”. Nhưng, Hitle muốn tỏ với thế giới rằng chế độ Đức Quốc xã là một chính thể dân chủ tự do chẳng kém gì Tây Âu nên đã lệnh cho Chính quyền quốc xã là phải tổ chức phiên toà theo đúng thể thức dân chủ Toà án châu Âu. Như vậy, phiên toà phải đạt các tiêu chuẩn: công khai hoàn toàn, tự do tranh tụng, tự do chất vấn, bình đẳng giữa hai bên bị đơn và nguyên đơn, Chánh án chỉ làm chức trách giữ trật tự theo luật và tôn trọng thể thức dân chủ. Do đó, bị cáo Dimitrov được quyền chất vấn tất cả các nhân chứng bên nguyên đơn kể trên theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và được tự do biện luận tự bào chữa, bảo vệ Chủ nghĩa cộng sản, tự do phê phán đối phương, chứng minh sự vô tội của mình. Cuộc tranh luận nẩy lửa kéo dài nhiều ngày giữa một bên là Dimitrov với bên kia là Gơrinh, Gơben và bộ sậu trùm phát xit.
Sau hơn 3 tháng xét xử và tranh tụng, ngày 23 tháng 12 năm 1933 toà án Đức quốc xã phải tuyên bố "tha bổng Dimitrov", với lý do "không đủ chứng cớ".
Còn tại phiên toà xử nhà giáo cựu chiến binh Nguyễn Khắc Toàn, chánh án không cho bị cáo biện minh sự vô tội của mình, không cho phê phán phản bác các điều luận tội vô căn cứ, tuỳ tiện chụp mũ vu khống của toà án. Quan toà liên tục lắc chuông, yêu cầu trả lời các câu hỏi của quan toà chỉ bằng mỗi một từ cụt ngủn là "Có" hoặc "Không " mà thôi. Cuối cùng bị cáo nhà giáo vô tội Nguyễn Khắc Toàn phải tuyên bố: "Nếu toà không cho tôi biện luận, phản bác những lời buộc tội vô căn cứ đối với tôi thì Toà án chỉ việc đưa tôi về trại giam rồi đem bản án tới tuyên bố án tù, hà tất bày ra phiên toà xét xử làm gì !" Chánh án lạnh lùng cho nghỉ phiên toà, vào luận tội rồi Hội đồng xét xử ra tuyên bố phạt bị cáo (nhà giáo cựu chiến binh) Nguyễn Khắc Toàn án tù 12 năm tù giam và 3 năm quản chế. Phiên toà không tới một ngày. Chân lý toà án xã hội chủ nghĩa như vậy đó !. Liệu dư luận quốc tế và trong nước có thể chờ đợi điều gì khác ở phiên toà xử bị cáo Nhà báo Nguyễn Vũ Bình hôm 31-12 này không ?.
Thưa quí Vị Hội đồng xét xử
Tôi xin có ý kiến về bản cáo trạng của Toà án. Trước hết Cáo trạng qui kết bị cáo Nguyễn Vũ Bình vào "tội gián điệp".
1- Theo "Bộ Luật Hình sự, điều 80, mục 1a ghi: - tội gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam"
Nếu qui kết vào tội này thì Cáo trạng phải đưa ra được những chứng cớ cụ thể rõ ràng, chứ không thể chỉ dùng một cụm từ chung "tội gián điệp” để tuỳ tiện chụp mũ, gán ghép tội vô căn cứ. Toà phải đưa ra được chứng cứ là Nguyễn Vũ Bình đã gây dựng cơ sở nào, ở đâu, bao gồm những cá nhân nào, họ hoạt động tình báo như thế nào và phá hoại chống nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam như thế nào, bằng những biện pháp cụ thể gì, v.v... Nếu không đưa ra được các dẫn chứng cụ thể như vậy thì Toà chỉ làm mỗi một việc chụp mũ bất kỳ ai vào trọng tội gián điệp, và là phiên toà phi pháp, phản đạo lý nhân văn.
2- “Điều 80, mục 1b ghi: - tội hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài, giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại."
Cáo trạng qui kết Nguyễn Vũ Bình vào tội này thì Toà phải chỉ ra được yếu tố "nước ngoài" đó là nước nào: Hoa Kỳ ? Pháp ? Anh ? Nhật ? hay nước nào khác cụ thể ? chứ không thể dùng cụm từ trừu tượng chung chung "nước ngoài" để kết tội vô căn cứ. Còn nếu như lấy “Bản điều trần về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam" của Nguyễn Vũ Bình gửi Uỷ ban nhân quyền Quốc hội Hoa Kỳ làm lý do lộ bí mật hoặc xúc phạm Nhà nước thì lại càng vô căn cứ – vì bản Điều trần này đề ngày 19-7-2002, mà nội dung về căn bản giống với bản Kiến nghị của tập thể 17 người dân chủ cùng ký tên đề ngày 6-7-2002 trong đó có chữ ký của nhà báo Nguyễn Vũ Bình, tức sớm hơn gần nửa tháng bản Điều trần của Nguyễn Vũ Bình. Mà cả hai bản này cũng đều là cùng nội dung lên án các vụ đàn áp giam cầm các nhà dân chủ, và yêu cầu trả tự do cho các nạn nhân vô tội đó. Cả hai bản "Kiến nghị" và "Điều trần" này là thực thi theo đúng Hiến Pháp, tại điều 53 ghi “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và kiến nghị với cơ quan Nhà nước". Vả lại, ngay từ năm 2000 tập thể các nhà dân chủ Hà Nội cũng đã ký tập thể nhiều đơn tố cáo các vụ đàn áp vi phạm dân chủ và quyền con người bởi cơ quan công quyền và kiến nghị với lãnh đạo Nhà nước. Các đơn đó được gửi cho cấp cao Đảng-Nhà nước, các cơ quan thông tấn báo chí và lên mạng internet.
Việc làm này là thực thi đúng Hiến pháp điều 69 ghi rõ “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin”. Hơn nữa, Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền (của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam là một thành viên), điều 19 ghi rõ: "Mọi người đều có quyền tự do về ý kiến và ngôn luận, quyền này bao gồm cả quyền không bị lo ngại về những ý kiến của mình và quyền tìm kiếm, thu nhận và phổ biến những thông tin và những ý tưởng bất cứ bằng phương tiện diễn đạt nào, không kể tới các biên giới". Thêm nữa, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (Việt Nam gia nhập 24-9-1982) tại Lời Nói Đầu ghi rõ "Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc thì các Quốc gia có nghĩa vụ thúc đẩy sự tôn trọng và bảo đảm mọi mặt các quyền và các tự do của con người".Và Văn kiện này tại Điều 19, mục 1 ghi “Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào". Mục 2 ghi "Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt biên giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của họ".
Như vậy, căn cứ vào Hiến pháp, Hiến chương Liên Hợp Quốc, và các văn bản Luật pháp quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết như vừa nói trên thì bản Điều trần của ký giả Nguyễn Vũ Bình là hoàn toàn hợp hiến, đúng với luật pháp nhà nước và luật pháp quốc tế. Từ đó thấy rõ rằng việc lấy bản Điều trần để buộc tội Nguyễn Vũ Bình phạm tội gián điệp là chính Viện Kiểm sát Hà Nội đã vi phạm Hiến pháp và các luật pháp quốc tế, và như vậy là Viện Kiểm sát đã mặc nhiên vi phạm Luật Hình sự tại Điều 122 là tội vu khống và phải đưa ra truy tố trước pháp luật.
Nếu toà cố tình quy tội gián điệp cho bản Điều trần của Nguyễn Vũ Bình thì phải mời các nhân chứng 17 người dân chủ đã viết bản Kiến nghị gửi lãnh đạo Đảng-Nhà nước ngày 6-7-2002 vì đó cũng chính là nội dung căn bản mà Nguyễn Vũ Bình lấy đưa vào bản Điều trần của mình. Hơn nữa, toà cần mời bà nghị sỹ Loretta Sanchez tới phiên toà làm nhân chứng xem có phải Quốc hội Hoa kỳ đã lấy được tài liệu bí mật quốc gia Việt Nam từ bản Điều trần đó của Nguyễn Vũ Bình không ? Theo luật pháp quốc tế, phiên toà đưa bị cáo ra xét xử vấn đề nào có liên hệ tới những ai thì nhất thiết phải mời những người đó tới dự làm nhân chứng khách quan, và cũng có thể là những người có liên quan trách nhiệm.
Tôi, công dân Hoàng Minh Chính với tư cách là người ký trong bản Kiến nghị của 17 người dân chủ gửi lãnh đạo Đảng-Nhà nước ngày 6-7-2002 yêu cầu được có mặt tại phiên toà làm nhân chứng cùng với tất cả 17 nhà dân chủ đó.
Trong bản Cáo trạng có ghi "Nguyễn Vũ Bình có quan hệ với 4 phần tử xấu là: Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Lê Chí Quang và Nguyễn Thanh Giang". Tôi, công dân Hoàng Minh Chính tố cáo Viện Kiểm sát Hà Nội vào tội vu khống phải đưa ra xét xử trước pháp luật. Chiểu theo "Bộ Luật hình sự, điều 122 – Tội vu khống (mục 1 và 2): Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự người khác thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm”. Tôi chính thức tố cáo Viện Kiểm sát Hà Nội mắc tội vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm công dân Hoàng Minh Chính và phải đưa ra toà án xét xử theo điều 122 của Bộ Luật Hình sự về Tội vu khống.
Cáo trạng còn dựa vào điều 80, mục 1b có nói tội "giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại" để kết tội Nguyễn Vũ Bình thì Toà phải chỉ ra được yếu tố "người nước ngoài" đó là ai, tên là gì, thuộc quôc tịch nào ? Không thể nhập nhằng coi Việt Kiều là "người nước ngoài" được. Về điểm này các phiên toà xử các nhà dân chủ trước đây đã cố tình vi phạm pháp luật, cứ nhập nhằng coi bừa đồng bào ở hải ngoại là "người nước ngoài", rồi nghi ngờ ai trong số đó là vu cáo bừa cho người đó là "kẻ phản động người nước ngoài” để trút tội lên đầu bị cáo – như trong các vụ xử bác sĩ Phạm Hồng Sơn, nhà giáo cựu chiến binh Nguyễn Khắc Toàn, v.v... Còn việc giao lưu qua internet giữa đồng bào hải ngoại với người trong nước là chuyện bình thường trên thế giới ngày nay, không thể coi là phạm pháp được, như tôi đã dẫn chứng tại phần trên về luật pháp quốc tế (của LHQ) và Hiến pháp Việt Nam.
Cáo trạng còn viện dẫn việc Nguyễn Vũ Bình nhân tiền của "người nước ngoài". Thì sự thật vẻn vẹn chỉ có thế này: nhân ngày lễ tết, bà con Việt kiều hải ngoại quý trọng ký giả Nguyễn Vũ Bình nên đã gửi quà về tặng gia đình với tình cảm thân yêu giúp cho hai cháu bé (cháu lớn mới 5 tuổi và cháu bé mới 2 tuổi trong lúc bố cháu bị bắt giam suốt 15 tháng trời, còn mẹ cháu mới ngoài 30 tuổi, một nách hai con nhỏ thường hay đau yếu. Mà thu nhập của mẹ cháu còn xa mới tới 1 triệu rưởi đồng / tháng, phải nuôi 4 miệng ăn kể cả bà mẹ già). Tổng số tiền gửi giúp đó cả tiền Việt và tiền ngoại tính thành đôla thì chỉ không trên 500 USD – ngang tiền tiêu một tối bù khú của một VIP. Thật là đáng xấu hổ và nhẫn tâm khi đem số tiền quà nhỏ này của hai con nhỏ để vu cho bố cháu là dùng vào việc "hoạt động tình báo, phá hoại, chống nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" (theo điều 80 - Tội gián điệp. Mục 1a). Đây đúng là triết lý cộng sản "Vì mục đích tối cao, dùng biện pháp, thủ đoạn nào cũng đều tốt !" Xin miễn bình luận.
3- Cuối cùng, một tội lỗi mà Cáo trạng qui kết là nghiêm trọng bậc nhất: Tội gửi "Đơn xin thành lập Đảng Tự do-Dân chủ". Giả thử như tác giả của Đơn này có tiến hành thành lập Đảng Tự do-Dân chủ thì cũng chẳng tội lỗi gì - vì Hiến pháp điều 69 ghi "Công dân có quyền tự do ngôn luận, ... có quyền hội họp, lập hội". Tuy nhiên Nguyễn Vũ Bình sau khi gửi đơn cho cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng-Nhà nước thì, một mặt kiên tâm chờ đợi Nhà nước cấp giấy phép hợp pháp, mặt khác chạy long tóc gáy kiếm việc làm cho có đồng thu nhập để nuôi con. Tuy chạy vạy mãi Nguyễn Vũ Bình mới kiếm được chân đưa báo thu nhập 700 đồng / tháng. Suốt từ ngày thôi việc Tạp chí Cộng Sản cho tới ngày bị bắt giam 25-9-2002 Nguyễn Vũ Bình chưa hề làm một động thái gì dính với việc lập Đảng Tự do-Dân chủ vì chưa được Nhà nước cấp giấy phép. Như vậy là Đảng Tự do-Dân chủ vẫn chỉ nằm mốc trên giấy xin phép, chưa hề có bóng dáng tí gì trong thực tế. Vây thì cái "trọng tội" mà Cáo trạng buộc cho Nguyễn Vũ Bình về tội "lập đảng" là một sự vu khống trắng trợn, mắc vào Điều 122, mục 1 và 2b, là Tội vu khống, thuộc Bộ Luật hình sự (tôi đã dẫn chứng trong phần trên).
Tóm tắt toàn bộ những điều luận tội của bản Cáo trạng, có thể kết luận như sau:
1/ Đơn xin thành lập Đảng Tự do-Dân chủ của Nguyễn Vũ Bình là hoàn toàn hợp hiến, hợp pháp. Nguyễn Vũ Bình bất động chờ đợi là rất kiên nhẫn. Cáo trạng quy kết Đơn xin thành lập Đảng Tự do-Dân chủ là trọng tội – là sự vu khống cho Nguyễn Vũ Bình. Việc vu khống này của Viện kiểm sát Hà Nội phải được đưa ra xét xử công minh trước toà án công khai để giữ nghiêm phép nước.
2/ Bản “Điều trần về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam" của Nguyễn Vũ Bình là hoàn toàn hợp hiến (chiểu theo Hiến pháp các điều 53 và 69), và đúng với công pháp quốc tế mà Việt Nam đã ký kết (như Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, v.v...).
3/ 500 đôla của bà con Việt kiều hải ngoại gửi cho gia đình Nguyễn Vũ Bình làm quà cho hai cháu bé là chuyện tình cảm nhân văn, không được xuyên tạc thành chuyện chính trị gián điệp.
4/ Cáo trạng có nêu những vấn đề của bị cáo mà có liên quan tới những người khác thì Toà phải mời các người đó tới phiên toà làm nhân chứng, thí dụ như: 17 người dân chủ ký đơn tập thể gứi nhà nước ngày 6-7-2002 có nội dung khớp với Bản Điều trần của Nguyễn Vũ Bình, công dân Hoàng Minh Chính yêu câu có mặt tại phiên toà làm nhân chứng và chất vấn việc bị vu khống, Bà nghị sỹ Loretta Sanchez được nhắc tới trong bản Điều trần có quyền dự phiên toà, cùng các người khác có tên trong Cáo trạng, v..v...
5/ Xét tất cả các điều luận tội “làm gián điệp” quy kết cho Nguyễn Vũ Bình như Cáo trạng đã nêu ra là vô căn cứ, tuỳ tiện chụp mũ, vu khống trắng trợn.
Công dân Hoàng Minh Chính với tư cách là Bào Chữa Viên Nhân Dân hợp pháp của thân chủ là bị cáo Nguyễn Vũ Bình, tôi dựa vững chắc vào Hiến pháp và luật pháp Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, và dựa mạnh mẽ vào Hiến chương Liên Hợp Quốc và công pháp quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tôi phản bác toàn bộ bản Cáo trạng của toà án là vô căn cứ và trái với Hiến pháp và công pháp quốc tế, tôi lớn tiếng tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Bình là hoàn toàn vô tội, tôi yêu cầu trả tự do vô điều kiện cho Nhà báo Nguyễn Vũ Bình và phải bồi thường danh dự cùng những thiệt hại về tinh thần và vật chất đúng như luật định.
Đôi điều quan trọng cần phải nói ngay kẻo thiếu:
Hà Nội, ngày 25 – 12 – 2003
Công dân Hoàng Minh Chính,
Bào chữa viên Nhân dân của
bị cáo ký giả Nguyễn Vũ Bình
Nơi gửi:
- Lãnh đạo Đảng-Nhà nước
- Các đoàn thể nhân dân
- Các cơ quan thông tấn báo chí
- Các bạn hữu và những ai quan tâm.
Về việc buộc tội
Cựu phóng viên Tạp chí Cộng sản Nguyễn Vũ Bình
Nhà tôi đã bị phá để mở đoạn đường mới Láng Hạ - Thanh Xuân. Việc di chuyển quá gấp gáp nên chỗ ở hiện nay vẫn rất ngổn ngang, lộn xộn, chưa có điều kiện suy nghĩ, viết lách. Mặc dầu vậy, tôi không thể không phát biểu gấp gáp đôi điều về một bản án sắp được đưa ra xử đối với cựu phóng viên Tạp chí Cộng sản Nguyễn Vũ Bình vào ngày 31 tháng 12 tới.
Không được trực tiếp đọc bản cáo trạng, sau đây chỉ là phản ứng không thể đừng đối với một số điều được nghe mô tả lại trong bản cáo trạng, nếu những điều ấy là có thực.
Đối với bản điều trần gửi Quốc hội Hoa Kỳ của Nguyễn Vũ Bình
Nguyễn Vũ Bình viết bản điều trần là theo yêu cầu của đại biểu quốc hội Hoa Kỳ, bà Loretta Sanchez. Thực chất bản viết này chỉ là sao chép một bản kiến nghị do tôi chấp bút trước đó. Nhiều nhà cách mạng lão thành, nhiều trí thức … đã ký tên và bản kiến nghị đã được gửi bằng nhiều hình thức đến Nhà nước, Đảng, Chính phủ, Quốc hội, nhiều uỷ viên Bộ Chính trị, uỷ viên Trung ương và lãnh đạo các ngành, các cấp … Sau thời gian chờ đợi, không nhận được bất cứ sự phúc đáp nào, chúng tôi đưa bản kiến nghị đó lên internet. Khi bản kiến nghị đã bị các đối tượng nhằm tới không thèm đoái hoài, nó coi như vô thừa nhận và chúng tôi đành gửi cho tất cả những ai trong cộng đồng nhân loại muốn quan tâm. Như vậy, nội dung bản điều trần của Nguyễn Vũ Bình đã được quốc tế biết trước từ khá lâu.
Không thể xem hành động này là vạch áo cho người xem lưng. Càng không thể quy kết thành ước muốn "cõng rắn cắn gà nhà". Chỉ những nhà cầm quyền mới có điều kiện cầu viện ngoại bang để giữ ngai vàng. Lịch sử đã có nhiều vua, quan bán dân, bán nước, gần đây người ta cũng đã nhượng vô nguyên tắc lãnh hải, lãnh thổ của ta cho Trung Quốc !. Chúng tôi là những công dân chân chính. Bị chính quyền xã xử sai, chúng tôi kêu lên huyện. Bị chính quyền huyện xử sai, chúng tôi kêu lên tỉnh. Bị chính quyền tỉnh xử sai, chúng tôi kêu lên Nhà nước. Bị Đảng và Nhà nước đàn áp một cách phi pháp, bất chính, chúng tôi kêu gọi lương tri nhân loại. Chúng tôi không chỉ là những công dân bình thường mà còn là những cách mạng lão thành, những trí thức có công với nước … Nhận được kiến nghị, không thèm trả lời, không phân tích đúng, sai đã là thái độ khinh mạn, xấc xược, đáng chê trách. Ỷ thế, cậy quyền đàn áp trắng trợn, xuyên tạc vu khống, gán tội gián điệp tầy trời để tù tội, đoạ đầy không chỉ những thanh niên nghĩa khí mà cả những ông già đã từng xả thân cho cách mạng và không hề có hành động gián điệp là tội ác bất cứ con người ở đâu, trong bất cứ chế độ chính trị nào cũng không thể dung tha. Ở đây không thể biện bạch bằng sự khác biệt về hình thức dân chủ hay quan niệm nhân quyền đông-tây, mà rõ ràng là biểu hiện sự tàn bạo phi nhân tính, phỉ báng lẽ đời, chà đạp luật pháp, chống lại những giá trị cơ bản của nhân loại.
Về việc Nguyễn Vũ Bình nhận tiền
Hình như người ta bảo rằng tôi hay đại tá Phạm Quế Dương có đưa cho Nguyễn Vũ Bình 4 triệu rưỡi.
Nếu tôi chỉ đưa cho Nguyễn Vũ Bình được ngần ấy thì tôi còn mủi lòng biết bao. Sự đền đáp với Nguyễn Vũ Bình, với vợ con Nguyễn Vũ Bình phải là vô hạn. Đang trong tuổi xuân phơi phới như vậy mà đành chịu cảnh "chàng trong song sắt, thiếp ngoài chân mây" đã là sự hy sinh lớn lao biết chừng nào. Huống chi bây giờ chỉ còn một nách nuôi dậy hai con nhỏ. Nghĩ đến cảnh trớ trêu ấy, tôi không thể cầm nước mắt và muốn thét thẳng vào mặt những kẻ bất lương, tàn bạo.
Tiếc rằng tôi đã không giầu hơn. Tuy nhiên tôi không hề nghèo. Tôi xuất thân từ cực khổ, lại quen sống đạm bạc, giờ tuổi đã cao càng không có nhu cầu chi tiêu nhiều. Tôi không cần bất cứ sự hỗ trợ nào cho cá nhân, nhưng tôi sẵn sàng kêu gọi bất cứ ai có lương tâm con người hãy trợ giúp không chỉ tinh thần, mà cả vật chất cho gia đình Nguyễn Vũ Bình. Tuỳ theo động cơ trợ giúp xấu hay tốt mà người cho có tội hay được hàm ơn. Người nhận nếu không làm điều gì phạm pháp thì phải được xem là không, hay chưa có tội. Gần đây người ta thường lập lờ đem chuyện tiền nong ra để bôi xấu và kích động lòng khinh ghét đối với đại tá Phạm Quế Dương, thạc sỹ-bác sỹ Phạm Hồng Sơn, nhà báo Nguyễn Vũ Bình … Đấy chẳng qua là trò tâm lý chiến rẻ tiền. Sẽ còn muôn đời mai mỉa khi nhớ lại rằng báo chí ta đã công bố một trí thức Việt Nam cam tâm làm gián điệp khi chỉ được thuê vài trăm đôla !
Như trên đã trình bầy, những ngày này tôi không có điều kiện viết dài. Đối với việc cáo buộc các tội nộp đơn xin thành lập đảng Tự do Dân chủ, tội dám quan hệ với các phần tử cơ hội Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Lê Chí Quang, tội tham gia thành lập Hội Chống tham nhũng … hy vọng sẽ có nhiều người bình luận, phê phán thêm.
Tôi chân tình khuyến nghị những ai vì quá hãnh tiến, vì quá lo lắng đến cái ghế, đến lợi quyền ngợp ngụa mà trở nên quá tàn bạo hãy biết sám hối và sửa sai ngay. Tôi tha thiết mong những ai còn chút lương tri hãy dũng cảm thẳng thắn phát biểu ý kiến của mình. Dẫu có mất chức đi chăng nữa thì lương tâm ta, danh dự ta vẫn còn. Chỉ không đầy một khoá, cùng lắm là thêm khoá nữa thì mặc nhiên cái ghế bị xếp lại, hãy đừng để chính mình và con cháu mình rồì đây bị lương tâm cắn rứt, thiên hạ nguyền rủa.
Hãy đấu tranh mạnh mẽ để Nguyễn Vũ Bình, Phạm Quế Dương, Nguyễn Đan Quế, Trần Khuê, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang … được trả tự do ngay. Tôi tha thiết kêu gọi tất cả lương tri trong và ngoài nước.
Hà Nội, đêm Noel 2003
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Khu tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập tự do hạnh phúc
Bài bào chữa xét xử ông Nguyễn Vũ Bình
với tội danh gián điệp.
Kính gửi: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội,
Tôi là Hoàng Tiến, nghề nghiệp viết văn, công dân nước CHXHCNVN, chỗ ở Nhà A 11 Phòng 420 Thanh Xuân Bắc—Hà Nội, nhận được đơn gia đình thân chủ mời làm bào chữa viên nhân dân cho vụ sơ thẩm xét xử ông Nguyễn Vũ Bình sẽ diễn ra vào ngày 31-12-2003 tại Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội. Chiểu theo điều 35 mục C Bộ luật tố tụng hình sự nước CHXHCNVN, tôi chấp nhận lời mời, đề nghị quý toà án Hà Nội tạo điều kiện để tôi được tham dự phiên toà bào chữa cho thân chủ tôi là ông Nguyễn Vũ Bình theo như luật định.
Xin gửi đến quý toà bài bào chữa, đại lược như sau:
Thân chủ của tôi, ông Nguyễn Vũ Bình, sinh ngày 2-11-1968, nguyên phóng viên tạp chí Cộng Sản, bị cơ quan an ninh bắt ngày 25-9-2002 với lý do vi phạm tội gián điệp. Sau 13 tháng giam cầm không cho vợ con gặp mặt (Thời hạn tạm giam để điều tra không được quá 2 tháng đối với tội ít nghiêm trọng, không được quá 4 tháng đối với tội nghiêm trọng. Vậy là đã quá 3 lần tội nghiêm trọng) nay mới được đem ra xét xử.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát khép tội thân chủ tôi, ông Nguyễn Vũ Bình, vi phạm điều 80 Bộ luật hình sự tức tội gián điệp, căn cứ vào những chứng cớ tóm lược như sau:
Tôi là người đã được đọc những bài viết của ông Bình, kể cả lá đơn xin thành lập đảng, và tìm hiểu những quan hệ của ông, nay thấy bản cáo trạng kết tội ông oan trái, xin được bào chữa theo lần lượt các tội trạng ghi trên.
1/ Viết đơn xin thành lập đảng. Lá đơn này ông Nguyễn Vũ Bình viết ngày 2-9-2000 kèm theo là một bài viết phân tích tình hình đất nước mang tiêu đề "Việt Nam và con đường phục hưng đất nước”. Sau khi phân tích cặn kẽ, ông Bình đi đến một quyết định cần phải có một đảng đối trọng như nhiều nước khác trên thế giới để đất nước được phát triển thuận lợi. Xin trích nguyên văn:
"Qua một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình đất nước, tôi có nhận thức rằng VN hiện nay đang đứng trước một cuộc tổng khủng hong toàn diện về kinh tế, chính trị và xã hội (Tôi xin gửi kèm một bài viết về vấn đề này). Theo nhận định của tôi, trong tương lai không xa nữa, sẽ có một cuộc thay đổi lớn của lịch sử đất nước và đó chính là sự thay đổi về chế độ xã hội. Việc có một lực lượng đối lập, mà đại điện là một chính đảng trong lòng xã hội hiện nay là yêu cầu bức thiết và tất yếu để giảm thiểu những tổn thất mà nhân dân phải gánh chịu trong quá trình thay đổi. Trên cơ sở nhận thức như vậy, tôi mạnh dạn làm đơn này, đề nghị và kính mong các ông, vì tương lai đất nước, vì lợi ích của dân tộc, cho phép tôi thành lập đảng Tự do—Dân chủ."
Lá đơn viết rất ngắn ngủi gửi chủ tịch nước và chủ tịch quốc hội, chưa hết một trang phôtô A4, chỉ là một lời đề nghị, xin phép, rất đàng hoàng, rất công khai. Chiểu theo pháp luật và Hiến pháp VN thì không có một mảy may nào kết thành tội phạm được. Điều 69 Hiến pháp CHXHCNVN ghi: “Công dân có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.".
Ông Nguyễn Vũ Bình làm đơn xin thành lập đảng theo quyền của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, không vi phạm luật pháp. Còn cho hay không là quyền của Nhà nước. Không thấy điều khoản nào cấm người dân làm đơn xin thành lập hội, lập đảng. Xét về ý thức luật pháp, người dân được quyền làm mọi việc trừ những thứ luật ghi cấm. Nếu cho việc viết đơn xin thành lập đảng là một tội, thì Viện kiểm sát phải chỉ ra được điều cấm đoán ấy ghi trong bộ luật nào của các bộ luật hiện hành ở VN, khung hình phạt của nó là bao nhiêu. Nếu không chỉ ra được, xin toà bác bỏ.
2/ Ông Nguyễn Vũ Bình viết một số bài mang nội dung xấu. Tôi đã đọc tất cả các bài mà Viện kiểm sát cho là nội dung xấu. Có mấy bài như sau:
Xét nội dung toàn bộ những bài viết này, nó chỉ là nỗi khắc khoải, tâm tư của một người trí thức yêu nước, lo cho vận mệnh dân tộc, tiền đồ đất nước. Tất nhiên là nó có khác ý kiến với Đảng lãnh đạo. Mà có khác ý kiến thì mới cần trình bầy, mới cần phát biểu. Còn đồng ý cả rồi thì chả cần mẹ hát con khen hay làm gì. Xét về mặt luật pháp nó không phạm tội. Nó chỉ thực hiện quyền làm dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp từ năm 1946, cho đến tận bản Hiến pháp sửa đổi lần thứ tư năm 1992 vẫn ghi nhận nó: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin ...” (Điều 69 Hiến pháp CHXHCNVN) và điều 53 còn ghi rõ hơn: "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cần ý dân." (Điều 53 Hiến pháp CHXHCNVN).
Vậy thì những bài viết kể trên của thân chủ tôi không có yếu tố cấu thành tội phạm. Nó mang những quan điểm ý kiến khác nhau thì chỉ có thể dùng tranh cãi, bàn bạc, lý luận giải quyết với nhau. Đây là lĩnh vực tư tưởng phải giải quyết bằng biện pháp tư tưởng. Chứ không thể dùng luật hình sự bỏ tù nhau được. Nó không vi phạm luật pháp. Không có điều luật nào cấm công dân không được trình bày những suy nghĩ của công dân.
Trong những bài viết trên thì có bài "Bản điều trần về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam" gửi Uỷ ban Nhân quyền Quốc hội Liên bang Hoa Kỳ, là bài đáng lưu ý hơn cả, đáng xem xét hơn cả, thì bản cáo trạng lại hình như bỏ lờ đi, không muốn nói rõ ra.
Tôi là người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ Nguyễn Vũ Bình, tôi xin nói rõ để toà xem xét. Bài này là do bà Loretta Sanchez, hạ nghị sĩ Quốc hội Mỹ, người đã sang thăm nước ta cùng phái đoàn tổng thống Mỹ Clinton. Bà này hoạt động về nhân quyền, do đó đã yêu cầu thân chủ tôi viết tham luận về tình trạng quyền con người bị vi phạm ở Việt Nam. Ông Bình với quan niệm về quyền con người ghi trong Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, với ý thức một công dân đấu tranh cho dân chủ từng ký vào một bản kiến nghị tập thể gần 20 người gồm lão thành cách mạng, cựu chiến binh, trí thức, văn nghệ sĩ ngày 6 tháng 7 năm 2002 gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước nêu lên nhiều vụ vi phạm nhân quyền ở ta. Bản điều trần gửi Quốc hội Mỹ chỉ là bản sao lại những điều đã nói trong bản kiến nghị tập thể.
Nếu cho việc làm này là có tội thì phải kết tội cả gần 20 người đã ký tên vào bản kiến nghị gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Và trước khi kết tội thì phải xem xét những điều phản ánh ấy có đúng hay không. Ví dụ như:
Nếu những việc phản ánh trên không đúng sự thực, thì mới có thể kết tội những người ký tên là vu khống, vi phạm luật pháp. Còn sự việc đúng như thế thì không thể kết tội họ được, chỉ có thể kết tội công an đã vi phạm quyền con người quá mức, để thế giới có cớ lên án chúng ta mà thôi.
Còn nếu kết tội thân chủ tôi cung cấp những tin tức trên cho Quốc hội Mỹ là phạm tội gián điệp, thì phải chứng minh được mấy việc sau, chiếu theo nội hàm của khái niệm gián điệp:
Thiển nghĩ rằng, việc đến như thế thì phiền toái quá. Chúng ta không thể giải quyết nổi. Vì nó đụng chạm đến quan hệ ngoại giao, quan hệ thương mại, quan hệ quốc tế về quyền con người, việc gia nhập WTO, những ràng buộc giữa các nước đã tham gia Liên hiệp quốc ...vv...
Tốt hơn hết, tôi đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận những bài viết khác quan điểm, khác ý kiến thành tội danh như Viện kiểm sát kết tội trong bản cáo trạng. Những bài viết ấy, bản thân nó không thể là tội phạm. Nếu cứ kết tội bừa, thì chỉ để người ta chê cười. Thế giới lâu nay người ta đã từng chê cười những vụ án về quan điểm, về tư tưởng, họ dùng cụm từ đăng báo để mỉa mai những vụ án này procès de tendance. Không có nước nào bây giờ còn dại dột giam cầm tù nhân chính trị, tù nhân tư tưởng. Ta không nên để mắc vào những điều xấu xa ấy, tạo cái cớ cho thế giới lên án chúng ta.
3/ Việc liên hệ với bọn phản động bên ngoài. Các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thường nói bây giờ là hoà hợp dân tộc, xoá bỏ hận thù, xếp lại quá khứ, cùng nhau xây dựng đất nước tương lai, vậy thì đối với khối người Việt di tản ra nước ngoài ta không nên coi họ là thù địch nữa. Việc quan hệ với những người Việt di tản, thậm chí với cả Nguyễn Văn Thiệu hay Nguyễn Cao Kỳ cũng chỉ nên coi là việc bình thường. Việt kiều có thể về thăm đất nước, người quốc nội đi quốc ngoại thăm thú bà con họ hàng. Quan hệ trao đổi thư từ hay qua Email Internet, không có gì là phạm pháp.
Ông Nguyễn Vũ Bình có trao đổi Email với các ông Việt kiều: Nguyễn Gia Kiểng, Nguyễn Ngọc Đức, anh Dũng hay cô Hiền, như bản cáo trạng đã nêu (nhận 52 meo và gửi 34 meo) không thể coi là yếu tố cấu thành tội gián điệp được.
Thứ nhất, các ông bà Việt kiều ấy là người Việt Nam, chứ không phải là người nước ngoài. Nội hàm của tội gián điệp theo luật ghi là phải có yếu tố nước ngoài. Nước ngoài (Etrangers) nghĩa là nước Mỹ, nước Anh, Pháp, Đức, Nga. Nhật hay Trung quốc ... chứ không thể là mấy ông Việt kiều. Còn ta cho họ là phản động, đấy là cách gọi của ta. Nhưng dù cho họ có là phản động thì sự quan hệ với họ cũng không thể thành tội gián điệp.
Giả dụ như, thân chủ tôi ông Nguyễn Vũ Bình, có theo sự chỉ đạo của tên phản động Nguyễn Gia Kiểng ở nước ngoài, thành lập một tổ chức bí mật trong nước để lật đổ chế độ, thì, phát hiện ra, cứ theo tội lật đổ chính quyền mà trừng phạt. Chứ không thể kết tội gián điệp vào đây được. Ngôn ngữ luật pháp phải rạch ròi như vậy.
Muốn kết tội gián điệp trong trường hợp này, chí ít phải chứng minh được ông Nguyễn Gia Kiểng là gián điệp hoạt động cho một tổ chức gián điệp nước ngoài nào đó (phải cụ thể là Mỹ, Anh, Pháp hay Đức ...vv...), thì mới có thể gắn thân chủ tôi vào là đồng loã với tội gián điệp. Nhưng làm việc này không dễ, vì ông Nguyễn Gia Kiểng có thể kiện ra toà án quốc tế về tội vu khống.
Tốt hơn hết, nên theo một quan niệm cởi mở bây giờ, liên hệ với những người bên ngoài (kể cả phản động hay yêu nước) không nên coi là một cái tội. (Ta vẫn thường quan hệ với những kẻ thù trước đây đã từng sang cai trị áp bức bóc lột dân ta, có những tên nợ máu với dân ta, vậy mà ngày nay ta vẫn tay bắt mặt mừng nâng cốc ký kết việc làm này, hợp đồng nọ với họ đấy thôi).
Vì vậy, đề nghị HĐXX không chấp nhận căn cứ thứ ba của bản cáo trạng kết tội thân chủ tôi với tội danh gián điệp.
4/ Việc nhận tiền nước ngoài. Cũng theo lập luận trên, bây giờ bốn bể là nhà, hoà nhập toàn cầu, việc nhận tiền của nước ngoài không nên coi là một tội danh. Họ hàng cho nhau, bè bạn cho nhau, người nước ngoài giúp người trong nước, buôn bán trao đổi, đồng đôla chạy đi chạy lại, nên coi là chuyện bình thường tất yếu nữa, cần thiết nữa.
Không có điều luật nào cấm người Việt Nam nhận tiền của nước ngoài. Nếu Viện kiểm sát cho là một tội thì xin hãy chỉ ra tội danh ấy ở bộ luật nào ?
Nói nhận tiền nước ngoài là có tội, đấy là cách nói để hù doạ với người dân. Nếu có tội thì sao không dám kết tội ông cựu tổng bí thư Đỗ Mười nhận hẳn 1 triệu đôla tiền biếu của tư bản Hàn quốc, báo Nhân Dân đưa tin hẳn hoi, còn dư luận xì xầm khắp mọi nơi mọi chốn. Buồn cười là vụ án kết tội gián điệp bác sĩ Phạm Hồng Sơn chỉ nhận có 150 đôla của nước ngoài. Bèo bọt quá ! nghĩ nực cười chảy nước mắt. Chỉ có toà án làm theo lệnh trên, bất chấp luật pháp, kết tội bừa bãi người lương thiện, mới trở thành cái trò hề như vậy. Làm thành một vết nhơ cho ngành toà án Việt Nam.
Tôi đề nghị HĐXX vụ án này, hãy thượng tôn pháp luật, không chịu một sức ép nào dù ở trên hay ở dưới, xét xử theo đúng luật pháp, để gỡ lại danh dự cho ngành toà án Việt Nam.
Mong HĐXX bác bỏ căn cứ thứ tư của bản cáo trạng kết tội việc nhận tiền nước ngoài thành tội gián điệp. Nó phi lý, chứng tỏ việc coi thường luật pháp hết cỡ.
Tóm lại những điều tôi bào chữa trên đây để đi đến một kết luận là: thân chủ tôi vô tội.
Ông Nguyễn Vũ Bình là một trí thức, phóng viên tạp chí Cộng Sản, một tạp chí lớn có lương bổng hậu so với cả nước. Nhưng vượt qua những lợi lộc cá nhân, với tấm lòng yêu nước nồng nàn cùng trách nhiệm của một trí thức trẻ trước vận mệnh dân tộc, ông đã nhìn ra những thiếu sót trong đường hướng hiện hành, lo lắng ưu tư, và ông đã dũng cảm trình bày thẳng thắn bộc trực những suy nghĩ của mình với những người lãnh đạo, chẳng lo tới thiệt hại bản thân, mong sao lãnh đạo cùng nhìn ra để đưa đất nước phát triển không thua kém năm châu bốn biển.
Trung ngôn nghịch nhĩ, lời nói thẳng khó lọt lỗ tai, nhưng những con người như ông Nguyễn Vũ Bình là những con người cần thiết cho đất nước lúc này. Những con người như ông cần được pháp luật bảo vệ và trân trọng.
Chiểu theo Hiến pháp nước CHXHCNVN và theo pháp luật hiện hành, tôi trân trọng đề nghị HĐXX, vì thượng tôn pháp luật, hãy xét xử theo hướng tha bổng, vì thân chủ tôi không có tội.
Kính mong HĐXX xem xét, cân nhắc, và phán quyết.
Hà Nội ngày 26 tháng 12 năm 2003
Bào chữa viên nhân dân
Nhà văn Hoàng Tiến.
Địa chỉ: Nhà A 11 Phòng 420
Thanh Xuân Bắc—Hà Nội
Đồng kính gửi: