Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam
Điện Thư - Số 10
Tháng 11 năm 2003
Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Như đã minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam - Chắc Chắn Đồng Lòng Sẽ Bẻ Gãy Họng Súng Của Độc Tài. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam@yahoo.com
Tin Ghi Nhận:
Văn bản lên tiếng của Uỷ ban vận động tự do cho tù nhân chính trị tại Việt Nam
về trường hợp ông Trần Dũng Tiến.
Sau một thời gian theo dõi vụ án một cách nghiêm túc, Uỷ ban vận động tự do cho tù nhân chính trị tại Việt Nam cực lực lên án Bộ Chính Trị Việt Nam đã vô cùng dã tâm và độc đoán khi tuỳ tiện bắt giam hơn nửa năm công dân cựu quyết tử quân Trần Dũng Tiến, người bảo vệ đầy quả cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Công dân Trần Dũng Tiến tuổi đời đã rất cao (tuổi thực gần 80), nhưng luôn thể hiện một khí phách kiên cường đấu tranh với thói xấu, sai trái của lãnh đạo. Đó là yêu cầu thả hai công dân, Phạm Quế Dương và Trần Khuê. Đó là việc phê bình ông Đỗ Mười- nguyên tổng bí thư Đảng cộng sn Việt Nam đã nhận một triệu USD của một tập đoàn tư bản Hàn Quốc. Đó là phê bình ông Lê Đức Anh- Nguyên chủ tịch nước Việt Nam đã khai man lý lịch Đảng. Đó là phê bình ông Nguyễn Khoa Điềm, uỷ viên Bộ Chính Trị, Trưởng ban tư tưởng văn hoá Trung ương đã cắt bỏ hai câu trong bài chúc văn giỗ tổ Hùng Vưng nhằm phủ định chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu, phủ định công lao Chủ tịch Hồ Chí Minh và công lao Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đó là phê phán sự bao che, liên hệ của các uỷ viên Bộ chính trị, uỷ viên trung ương Đảng Việt Nam đối với tên trùm xã hội đen Năm Cam v.v...
Những điều đó đều đã được nhiều người biết. Nhưng chỉ có ông Trần Dũng Tiến mới dũng cảm đề cập trên văn bản, và gửi các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước một cách công khai. Tất cả các bài viết ấy đều hợp pháp.
Tại sao những người trong Bộ Chính Trị cậy quyền cậy thế chỉ thị cho công an bắt, chỉ thị cho toà án khép tội ông vào điều 258 một cách bừa bãi !?
Điều 258 nêu rõ: "Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân". Toà án đã không thể trả lời được các điểm sau đây:
Trong các bài viết của mình, ông Trần Dũng Tiến đã yêu cầu được lấy tính mạng mình thế chấp cho tính trung thực của những thông tin mà ông đã nêu. Ông cương quyết yêu cầu được tranh luận trước toà án với các ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Nguyễn Khoa Điềm, v.v... với sự chứng kiến của nhân dân. Nếu những điều ông Tiến nói là vu cáo, thì tại sao các ông đã nêu không dám ra trước toà án đối chất với ông Tiến để bảo vệ danh dự cho mình ??!! Tại sao Bộ Chính Trị không dám xét xử công khai, khép tội ông một cách bừa bãi, độc đoán đến như vậy ?!. Trước ngày xử một tuần mà gia đình ông Tiến vẫn không hề được thông báo ngày xử. Đó có phải là chà đạp quyền con người hay không ?
Khi luật sư Đàm Văn Hiếu đến gặp thân chủ của mình là ông Tiến tại trại giam, ông Tiến có đưa cho luật sư Hiếu một bản cáo trạng để nghiên cứu bào chữa. Nhưng khi luật sư Hiếu ra đến cổng trại giam đã bị công an tịch thu bản cáo trạng ngay tức thì. Trong khi đó, toà án nhân dân thành phố Hà Nội không hề chuyển cáo trạng cho luật sư Hiếu. Tại sao lại phải sợ sệt không dám đưa cáo trạng cho luật sư bào chữa ?? Đó cũng là hành vi chà đạp trắng trợn luật pháp Việt Nam, chà đạp quyền làm người cơ bản.
Với biết bao điều sai trái, Bộ Chính Trị cần phải lập tức thả vô điều kiện công dân Trần Dũng Tiến. Bồi thường danh dự công dân cho ông Trần Dũng Tiến, Phải xin lỗi trên báo chí. Bộ Chính Trị Việt Nam hãy tỉnh táo, dừng ngay bàn tay độc ác. Đừng lún sâu vào vòng xoáy tội lỗi.
Hà Nội ngày 12 tháng 11 năm 2003.
Trần Hoàng Lê
Uỷ ban vận động tự do cho tù nhân chính trị tại Việt Nam.
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Đơn đề nghị
Kính gửi : Các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tôi là : Bùi Thị Kim Ngân.
Địa chỉ : Số nhà 26 tổ 67B- Phờng Vĩnh Tuy - Quận Hai bà Trưng- Thành phố Hà Nội.
Chồng tôi là: Nguyễn Vũ Bình, bị cơ quan An Ninh Thành phố Hà Nội bắt ngày 25 tháng 09 năm 2002 vì họ cho rằng chồng tôi có một số hành vi phạm vào tội gián điệp.
Chồng tôi xuất thân từ gia đình bần nông, gia đình có công với cách mạng. Chồng tôi tốt nghiệp trường Đại học Tổng hợp khoa kinh tế chính trị học năm 1990 và làm biên tập viên ban kinh tế của báo Tạp chí Cộng sản từ năm 1992.
Tháng 9 năm 2000 chồng tôi có viết đơn xin thành lập Đảng Dân Chủ và viết luôn đơn xin thôi việc nhưng Tạp chí Cộng sản không giải quyết cho chồng tôi nghỉ việc ngay, hàng ngày chồng tôi được các ông lãnh đạo của Tạp chí mời lên chất vấn và khuyên chồng tôi rút đơn bảo lưu ý kiến, họ cũng gặp tôi vài lần động viên về khuyên chồng rút đơn bảo lưu ý kiến thì sẽ tiếp tục làm việc ở Tạp chí. Tôi không muốn chồng tôi bị mất việc nên cũng khuyên chồng tôi như lời một số ông lãnh đạo Tạp chí Cộng sản đã đề nghị, chồng tôi nói với tôi đó là quan điểm và nhận thức của chồng tôi, đừng bắt anh ấy phải có nhận thức và suy nghĩ khác. Trong mọi công việc, chồng tôi là người cẩn thận và suy nghĩ rất chín chắn, tôi luôn tin tưởng vào mọi việc chồng tôi đã làm. Tôi đã động viên chồng tôi đừng buồn, không làm ở Tạp chí Cộng sản nữa thì sẽ kiếm việc khác để làm. Đến đầu năm 2001 chồng tôi có Quyết định buộc thôi việc.
Sau này chồng tôi có viết một số bài như Việt Nam và con đường phục hưng đất nước. Ngoài ra còn ký tên vào lá đơn xin thành lập Hội nhân dân chống tham nhũng ...
Nhưng sau các lần đó chồng tôi cũng chỉ bị Cơ quan An ninh mời sáng đi tối về để hỏi han trong vòng 01 tuần rồi được trả tự do.
Giữa tháng tháng 07 năm 2002 nhận được lời mời của một vị dân biểu Mỹ, chồng tôi đã viết một bài có tựa đề : Bản điều trần về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam. Chồng tôi đã gửi bài này cho Uỷ ban nhân quyền - Quốc hội liên bang Hoa Kỳ vào lúc 07h sáng ngày 20 tháng 07 năm 2002, thì đến 8h30' cùng ngày, Công an ninh ập đến nơi chồng tôi làm việc, lục soát tài liệu, máy tính và bắt chồng tôi đưa về Cơ quan An ninh Thành phố Hà Nội. 19h ngày hôm đó, chồng tôi về nhà cùng mấy ông cán bộ An ninh. Họ vào nhà tôi lục soát, thu giữ và đem đi một số giấy tờ của chồng tôi mà họ cho đó là tài liệu.
Hơn một tuần từ sáng đến tối chồng tôi bị Cơ quan an ninh đưa đi để chất vấn hỏi cung và trong hai tháng Cơ quan an ninh giám sát mọi mối quan hệ của gia đình tôi 24h/24h. Đến 18h30' ngày 25 tháng 09 năm 2002 khi vợ chồng tôi cùng 2 con nhỏ đang ở nhà thì vài chục ông cán bộ của Cơ quan An ninh thành phố Hà Nội đến lục soát khám nhà tôi và bắt chồng tôi đem đi cùng một số giấy tờ mà họ đã lấy ở nhà tôi, vì họ cho rằng đó là tài liệu của chồng tôi. Từ đó đến nay chồng tôi đang bị giam tại khu biệt giam của trại tạm giam thành phố Hà Nội.
Thưa các ông !
Chồng tôi bản chất thật thà, hiền lành đạo đức, sinh trưởng, làm việc trong môi trường tốt. Tôi luôn tin tưởng chồng tôi không làm gì hại dân, hại nước. Tôi nghi ngờ việc chồng tôi bị Cơ quan an ninh bắt vì họ cho rằng chồng tôi có hành vi vi phạm vào tội gián điệp ? Đến khi sự việc xảy ra với tôi, đó là việc tôi bị Tổng cục An ninh yêu cầu cắt Điện thoại di động của tôi ngày 18 tháng 06 năm 2003, chỉ vì tôi đã trả lời điện thoại về việc chồng tôi bị bắt ngày giờ nào ? tình hình cuộc sống của 3 mẹ con tôi hiện nay ra sao ? mà cũng đã bị một số ông Cán bộ an ninh nói rằng tôi đã vi phạm An ninh quốc gia. Có phải việc chồng tôi đã dám nói thẳng, nói thật và viết ra những quan điểm cá nhân mà chồng tôi đã nhận thức được về xã hội qua các bài viết đã nêu trên đó chính là hành vi mà cơ quan An ninh cho rằng đã phạm vào tội gián điệp ?.
Tôi vẫn cho rằng lý do chính làm cho chồng tôi bị bắt chính là đã viết bài : Bản điều trần về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam, lại dám gửi cho Quốc hội Mỹ.
Thưa các ông !
Nội dung bài viết đó, tôi thấy chồng tôi đã viết hoàn toàn đúng sự thật, các sự việc đó tôi cũng đều biết, nó đã xảy ra với gia đình tôi và một số gia đình khác mà tôi biết.
Từ khi chồng tôi bị bắt, tôi đã tìm hiểu và đọc các bài mà chồng tôi đã viết. Đến bây giờ tôi càng tin tưởng chồng tôi không có tội gì cả.
Vì vậy tôi làm đơn đề nghị các ông xem xét và đánh giá đúng việc làm của chồng tôi để chồng tôi sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình.
Một số ông Cán bộ An ninh đến nhà tôi đều biết, hoàn cảnh cuộc sống của 3 mẹ con tôi ra sao ? Sau khi chồng tôi bị bắt đem đi, mọi việc từ chăm sóc con cái, nhà cửa, làm kinh tế đều tập trung vào mình tôi. Hiện nay tôi phải lo kinh tế để nuôi 5 người : hai con nhỏ, một mẹ già lên trông cháu. Hàng tuần phải lo đi gửi đồ cho chồng ở trong trại giam.
Thưa các ông, tôi đã hai lần được Cơ quan An ninh gọi lên cho đọc thư của chồng tôi viết ra, thì hai lần đều không cầm được nước mắt vì những điều đơn giản mà chồng tôi đã nhắn trong thư : lần thì nhắn gửi thêm cho anh một ít cá khô, lạc rang, muối vừng, lần thì gửi thêm canh. Tuần nào tôi cũng đi gửi đồ cho chồng tôi, rất lâu các ông mới cho phép chồng tôi nhắn ra vài dòng vì vậy tôi thật sự không biết phải gửi những thứ gì cho chồng tôi, lẽ nào chồng tôi đang bị giam chế độ đặc biệt như lời một số ông cán bộ an ninh đã nói. Tôi biết đất nước còn nghèo, gia đình tôi không đòi hỏi gì về chế độ ăn uống do trại cung cấp. Chính vì vậy kể từ ngày chồng tôi bị bắt đến nay đã hơn một năm, đã nhiều lần tôi làm đơn xin được gặp chồng tôi cũng như xin được gửi thêm đồ do gia đình chuẩn bị để chồng tôi đảm bảo sức khoẻ vì chồng tôi vốn bị bệnh đại tràng mãn tính. Tôi xin gửi sách báo, tạp chí cho chồng tôi, để chồng tôi nghiên cứu, giải trí, luyện não. Nhưng tôi đều bị các ông bên cơ quan An ninh từ chối với nhiều lý do, kể cả lý do chưa kết thúc điều tra. Đến nay tôi biết hồ sơ của chồng tôi đã sang tới toà án nhân dân thành phố Hà nội. Rất nhiều gia đình đều đã được gặp chồng, con không chỉ một lần mà nhiều lần như gia đình ông Phạm Quế Dương, ông Trần Dũng Tiến, Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang. Tại sao chỉ riêng tôi vẫn không được các ông cho phép gặp chồng ?. Tôi tự hỏi có phải gia đình tôi bị phân biệt đối xử ?. Thật sự một vài lần tôi cũng có tranh luận với một số ông cán bộ bên cơ quan an ninh hay tôi đã không nghe theo các ông ấy cấm không được gửi đơn vượt cấp ?. Các cụ bảo có bệnh phải vái tứ phương. Tôi luôn nghĩ chồng tôi bị oan, nên tôi đã hai lần gửi đơn đi các nơi, mong các cấp có thẩm quyền xem xét. Lần gửi lá đơn đầu tiên ngày 19 tháng 5 thì đến 13 tháng 6 năm 2003, tôi còn được ông Năm và ông Hiếu ở Thanh tra bộ công an gọi lên gặp và trả lời những điều mà tôi đã đề nghị đó là nguyện vọng chính đáng để các ông ấy có ý kiến với bên Cơ quan an ninh. Tôi đã đợi mãi chẳng nhận được sự trả lời từ phía Cơ quan an ninh.
Gần đây nhất tôi đã gửi đơn xin gặp chồng lần thứ 4 rồi nhưng chẳng ai thèm để ý, gửi đi là đi luôn và đến nay tôi không được chấp nhận bất cứ một đề nghị gì trong các đơn thư tôi viết.
Từ khi chồng tôi bị bắt đi, gia đình tôi sống trong cảnh khốn khó, buồn tẻ, ảm đạm. Con cái thiếu tình thương và sự chăm sóc của bố, vợ chồng chia lìa cả về hình bóng lẫn giọng nói, tin tức có khác gì hai người sống ở hai hành tinh xa lạ. Trăm việc đổ lên đầu tôi, sức con người có hạn. Tôi luôn sống trong tình trạng mệt mỏi về cả thể xác và tinh thần nếu cứ kéo dài tình trạng như thế này không biết tôi có trụ nổi để nuôi hai con nhỏ.
Các ông cán bộ an ninh nói rằng : Ai làm người nấy chịu. Tôi thì luôn tin chồng tôi không có tội bây giờ chồng tôi bị bắt đem đi kéo theo cả gia đình vào hoàn cảnh sống lao đao, ngột ngạt, kém tự do. Tôi thỉnh thoảng cũng được bên an ninh nhắc nhở không nên trả lời điện thoại của bất kỳ ai hỏi về gia đình, nhất là về tình hình của chồng tôi thì càng không được, cũng không nên đến nhà một số gia đình có người thân giống như hoàn cảnh của chồng tôi hiện nay (những gia đình đó cùng trong cảnh ngộ dễ đồng cảm với gia đình tôi). Tôi luôn cảm thấy mình không khác gì bị giám sát.
Đến bây giờ tôi không được gặp, không được nói về chồng, về hoàn cảnh cuộc sống của 3 mẹ con tôi nếu có ai đó quan tâm hỏi thăm. Nếu trả lời thì sẽ bị cắt điện thoại, bị cho là vi phạm an ninh quốc gia. Thư từ cho chồng thì rất hạn chế và phải làm đơn xin phép nếu cơ quan an ninh đồng ý thì tôi cũng chỉ được gọi đến để đọc.
Thưa các ông nếu sống như thế có khác gì tôi đã trở thành người vừa mù, vừa điếc ?. Cuộc sống có khác gì địa ngục ?. Số máy di động của tôi cũng đã 2 lần bị tạm giữ vì lý do vi phạm An ninh Quốc gia, làm ảnh hưởng rất nhiều đến công việc của tôi. Tôi thật sự bất bình về chuyện đó. Tôi là người phụ nữ bình thường chỉ biết lo toan vun vén cho gia đình con cái. Tôi đâu có am hiểu và biết tí gì về vấn đề chính trị hoặc an ninh quốc gia ?. Chính vì vậy tôi tha thiết đề nghị các ông sớm trả tự do cho chồng tôi cũng chính là cứu sống gia đình tôi.
Từ khi được biết hồ sơ của chồng tôi đã sang tới Toà án nhân dân thành phố Hà nội. Tôi thật sự bồn chồn và lo lắng cho chồng tôi. Tôi đôn đáo đi các nơi để hỏi thăm tin tức của chồng tôi. Tôi cũng đã chính thức có đơn ký kết mời luật sư bào chữa cho chồng mình đó là luật sư Thắng Cảnh - Văn phòng luật sư Cảnh Khôi, đó là một khoản chi phí không nhỏ đối với thu nhập của tôi hiện nay. Tôi cũng đã đến Toà án nhân dân Thành phố Hà nội hỏi về vụ việc của chồng tôi nhưng không được cán bộ toà án trả lời với lý do không cung cấp tin tức cho người ngoài. Có lẽ nào tôi là vợ của bị cáo lại coi là người ngoài ?. Để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho chồng tôi cũng như đúng thủ tục pháp lý trong việc tranh tụng. Tôi làm đơn này đề nghị các cấp có thẩm quyền nhanh chóng cho tôi được gặp chồng tôi để chính thức bàn về chuyện mời luật sư cho anh ấy cũng như được biết cụ thể về tình trạng sức khoẻ của chồng tôi.
Tôi luôn mong đợi sớm nhận được sự hồi âm từ các ông.
Tôi xin chân trọng cám ơn các ông.
Hà nội ngày 28 tháng 10 năm 2003
Người làm đơn
Bùi Thị Kim Ngân
Nơi nhận:
Thư của ông Hoàng Minh Chính gửi Thẩm phán Nguyễn Văn Hạnh về vụ án Trần Dũng Tiến
Hà Nội, ngày 8. 11. 2003
Kính gửi: Ông Thẩm phán Nguyễn Văn Hạnh,
Chủ toạ Hội đồng Xét xử phiên toà sơ thẩm 12.11.2003
Tôi là công dân Hoàng Minh Chính, Bào Chữa Viên Nhân Dân hợp pháp của bị cáo Trần Dũng Tiến đã có bài Bào Chữa (sơ thảo) cho thân chủ là ông Trần Dũng Tiến, đề ngày 10.10.2003 đã gửi cho quí Hội đồng Xét xử trước phiên toà đáng lẽ họp ngày 16.10.2003 - nhưng lại bị hoãn họp tới ngày 12.11.2003.
Tôi xin phép được nhắc nhở rằng trong bài Bào Chữa đó có đôi điều đề nghị quan trọng như sau:
1/ Với tư cách Bào Chữa Viên Nhân Dân hợp pháp của thân chủ Trần Dũng Tiến, tôi đã đề nghị quí Hội đồng Xét xử gửi cho tôi Giấy Mời tới dự phiên toà sơ thẩm ngày 16/10/2003 theo đúng thể thức một phiên toà dân chủ của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đáng tiếc là tôi không nhận được Giấy Mời, mà cũng không được quí Toà thông báo vì lý do gì.
Nhân đây, tôi xin thông tin cho quí Toà biết một việc như sau :
Ngày 20,21/6/2001 Toà án Nhân dân thành phố Hà Nội phiên sơ thẩm xử bị cáo Thành Thị Hỷ (sinh 1936), trú quán 38 Tăng Bạt Hổ, phường Đình Hố, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Bên nguyên đơn (bị hại) là 43 người thuộc Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Trung ương (Chủ tịch Hội là bà Trương Mỹ Hoa, sau đó là bà Hà Thị Khiết ). Bên nguyên đơn hồi đó đã đề cử ông Vũ Minh Ngọc (sinh 1927), nhà báo, trú quán Nhà A1, P.49, Khu TT Nam Đồng, Hà Nội, làm Bào Chữa Viên Nhân Dân theo qui chế Bộ Luật Tố tụng Hình sự, điều 35, tiết 1c. Trong các phiên toà Sơ thẩm (20 và 21/6/2001) và Phúc thẩm (16/8/2001), Ông Vũ Minh Ngọc với tư cách là Bào Chữa Viên Nhân Dân hợp pháp đã được các Ông Thẩm phán Chủ toạ phiên toà Sơ thẩm và Phúc thẩm mời lên trước toà với tư cách Bào Chữa Viên Nhân dân để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Ông Vũ Minh Ngọc đã đứng trước cả hai phiên toà Sơ thẩm và Phúc thẩm cả thảy 6 lần lên án phía Bị đơn và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nguyên đơn. Kết quả luận án : xử phạt bị cáo 20 năm tù và phải bồi thường đầy đủ cho tất cả 43 người bị hại thuộc bên Nguyên đơn – theo đúng Bản án số : 410/HSST, ngày: 20,21/6/2001 của Toà Sơ thẩm TANDTPHà Nội; và Số thụ lý 1428, ngày 16/8/2001 của Toà án Nhân dân Tối cao -Toà Phúc thẩm tại Hà Nội.
Đây rõ ràng là hai phiên toà công minh biết tôn trọng Luật Tố tụng Hình sự, xử theo luật pháp và Hiến pháp, trong đó đã tôn trọng đầy đủ Điều 35, tiết 1c, về Quy định quyền Người Bào Chữa Viên Nhân Dân.
Trên cơ sở Bộ Luật Tố tụng Hình sự đã qui định rõ ràng và thực tế Toà án nhân dân Hà Nội đã thực thi từ năm 2001 theo đúng Điều 35, tiết 1c về quyền hợp pháp của Bào Chữa Viên Nhân Dân như đã nói trên, tôi đề nghị Hội Đồng xét xử Toà án nhân dân Hà Nội vui lòng gửi Giấy Mời, - theo đúng Luật Tố tụng Hình sự, điều 35, tiết 1c -, để cho tôi, với tư cách là Bào Chữa Viên Nhân Dân của bị cáo Trần Dũng Tiến, có thể tới làm trách nhiệm hợp pháp của mình tại phiên toà sơ thẩm ngày 12/11/2003 .
2/ Tôi cũng xin nhắc nhở quí Toà biết rằng trong bản Bào Chữa đề ngày 10/10/2003 tôi đã sơ tóm phiên toà của phát xít Hítle xử người cộng sản Dimitrov theo thể thức dân chủ Tây Âu, trải dài 92 ngày, có 42 phóng viên báo chí trong nước và 82 phóng viên quốc tế được dự đưa tin suốt 3 tháng xử. Đó là chuyện xảy ra vào thập niên 30 thế kỷ trước. Ngày nay, chúng ta ở vào thời đại văn minh dân chủ toàn cầu của thế kỷ XXI, chẳng lẽ phiên toà xử những nhà dân chủ lại không dám làm như phát xít Hitle trong phiên toà xử nghị sĩ cộng sản Dimitrov hay sao - cụ thể là để cho nhà báo được tự do vào dự phiên toà dù chỉ là mươi người. Còn nếu như cứ hành xử như các phiên toà xử các nhà dân chủ và tôn giáo trước đây không cho nhà báo vào dự thì rõ ràng là Nhà nước Việt Nam đã vi phạm Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Việt Nam gia nhập Công ước này ngày 24/9/1982) và cả Hiến pháp Việt Nam trong các điều 50, 53, 69. Và như vậy là cung cấp bằng chứng hiển nhiên cho các Nhà nước dân chủ trên thế giới và dư luận quốc tế rộng rãi lên án chính quyền Việt Nam là vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và yêu cầu chế tài đối với nước ta. Chẳng nhẽ các vị không thấy rằng nước Mianmar do vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nên đang bị bao vây kinh tế và chính trị đó sao ?
3/ Qua thông tấn quốc tế và thông báo của TTXND cuối 10/2003, tôi được tin rằng Chủ tịch nước Trần Đức Lương trong lần thăm chính thức Ba Lan mới rồi, “Cộng đồng người Việt sống ở Ba Lan và Châu Âu đã chất vấn ông Trần Đức Lương về “Số phận các nhân sĩ yêu nước đấu tranh cho một nền tự do Dân chủ ở Việt Nam đang bị giam giữ sẽ như thế nào ?" Ông Trần Đức Lương không ngần ngại đã trả lời: “Chúng tôi đã chỉ đạo Toà án tìm cách giảm nhẹ hình phạt xuống mức thấp nhất cho tất cả các ông ấy, như tha bổng, án treo ... Riêng những người đã thành án thì phải qua Toà Giám Đốc Thẩm quyết định trong thời hạn tối đa là 12 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực như Bộ Luật hình sự quy định, nhưng vẫn trên tinh thần là phải xoá án" (trích Thông Báo của TTXND cuối 10/2003 ).
Nghị quyết Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam và những lời tuyên bố nhiều lần của lãnh đạo Đảng-Nhà nước từng tuyên bố rằng "lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau”.
Vậy ta hãy chờ xem !
Tuy nhiên, căn cứ trên các bài viết công khai của tất cả các nhân sĩ yêu nước gửi thẳng cho cấp lãnh đạo cao của Đảng và Nhà nước chỉ một mực yêu cầu thực thi Dân chủ hoá đất nước, tôn trọng Nhân quyền, Tự do báo chí, Chống tham nhũng, Chống bạo lực đàn áp dân lành... Còn các phiên toà xét xử lâu nay đối với các vị nhân sĩ đó đều là áp đặt tuỳ tiện, vô căn cứ, phi pháp như tôi đã trình bày trong bản Bào Chữa 10/10/2003. Vì vậy tôi yêu cầu trả tự do vô điều kiện cho tất cả các nhà ái quốc đáng kính ấy.
Người Bào Chữa Nhân Dân
của bị cáo vô tội Trần Dũng Tiến
Công dân Hoàng Minh Chính
ĐC : 26 Lý Thường Kiệt, Hà Nội
ĐTDĐ : O913.341417
Nơi nhận :
Đồng kính gửi:
Chân dung, phác hoạ
Bịt làm sao cái miệng đời
Thấy điều tức mắt một lời thẳng tưng,
Đảng ta hòng những bít bưng
Báo, đài hé nói … là trừng trị ngay.
Làm sao dân chúng chẳng cay
Vùng lên mạnh mẽ thẳng tay vạch trần.
Bắt đầu là Nguyễn Văn An,
Nhà máy dệt bị phá tàn bởi ông ( nhà máy dệt Nam Định)
Nợ chi, nợ chất, nợ chồng
Ngân hàng tiền tỉ vô hồn bốc hơi
Ung dung, ông khoét ông moi
Nhà máy phá sản, biết đòi ở đâu ?
Tội ông tưởng phải chặt đầu
Âý vậy, vù cái, lên hầu trung ương.
Vừa xu nịnh, vừa khoa trương
Mấy kẻ thượng cấp bất lương cho làm
Chủ tịch quốc hội hôi tanh
Nhìn tướng mặt thấy gian manh khôn lường
Bộ chính trị lấy làm mừng,
Từ nay sẽ được tưng bừng giật dây
Người thứ hai nói sau đây,
Là ông Tổng Mạnh dại ngây vô cùng,
(Xuất thân vốn dân tộc Tày,)
Nhác trông bảnh choẹ không dùng được đâu !
Bởi vì ông có cái đầu
Trí tuệ ngắn tũn thật rầu lắm thay !
Mỗi lần phát biểu loay hoay (không được cấp dưới viết trước giấy !)
Vòng vo lúng túng, lạc ngay chủ đề
Ý thì nông cạn ngô nghê
Mười , Anh lôi kéo dễ bề bảo, sai
Ai không biết cứ tưởng hoài
“Trẻ hoá đội ngũ “, báo đài vẫn loan
Người ba, thủ tướng họ Phan
Trước đây cứ ngỡ chẳng gian chuyện gì
Công an Bộ phải ỉm đi
Khi điều tra một hồ sơ động trời
Số là, đã có một thời
Ông Phan Văn Khải cặp bồ Kim Oanh
Kim Oanh, họ Lã rành rành
Buôn lậu khét tiếng đã thành ranh ma
Định rằng khuynh đảo Quốc Gia
Bằng chiêu núp bóng: Người nhà họ Phan
Mấy toà biệt thự huy hoàng
Mụ đều làm giấy đoàng hoàng: Phan Văn …
Thật là một chuyện oái oăm
Trung ương hoảng hốt vội ngăn “kịp thời”
Dân chờ cái chuyện động trời
Trung ương ta sẽ trả lời ra răng ?
Người tư, Chủ Tịch Đức Lương,
Mặt mũi tăm tối nhác chừng nông dân
Dáng đi, cử chỉ lần mần
Không có cái tướng, cái thần oai nghiêm
Về nhà vợ chửi luôn mồm
(Dạy vợ không nổi, sao hòng dạy dân ?!)
Luôn mang một vẻ mặt đần
Còn đâu thể diện, tinh thần quốc gia !
Người năm muốn nói đến là
Ông Nguyễn Tấn Dũng đang đà nấc thang
Trước, nguyên thống đốc ngân hàng
Để cho thất thoát mấy ngàn tỉ ra (vụ EPCO_ Minh Phụng)
(Đấy là một vụ thôi nha
Còn bao vụ khác ắt là nhiều hơn)
Tưởng rằng ông bị ăn đòn
Thanh roi luật pháp vẫn còn cất đâu ?
Rồi thì chẳng mấy lâu sau
Chức phó Thủ Tướng đặt vào tay ông
Dân bàn tán chuyện thông đồng
Giữa các phe phái trong lòng trung ương (thoả hiệp)
Phe kia nhún, phe này nhường
Ngồi trên luật pháp. Coi thường nhân dân
Ý xưa, nhắc lại một lần
"Cái gì thối nát cũng cần đập tan !"Hà nội 2003
Bất Cơ
‘Lã Thị Kim Oanh được đạo diễn từ A đến Z’
Ông Nguyễn Thiện Luân, nguyên thứ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã khẳng định như vậy với báo chí trước khi bị khởi tố. Ông còn cho rằng nhiều văn bản của Bộ liên quan đến dự án của Oanh là do chính Oanh soạn thảo và tự trình để các cấp duyệt.
- Thông tin báo chí đưa về vụ này nhiều, nhưng vẫn chưa đủ để lý giải tại sao Lã Thị Kim Oanh gây thiệt hại nhiều như thế ?
- Đúng là chưa ai giải thích được những câu hỏi khó trong vụ này. Kim Oanh làm ăn bậy bạ thì Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã có thanh tra. Kết luận thanh tra từ tháng 5/2000 mà Bộ lại không giải quyết, để tháng tháng 6/2001 Công an nhảy vào khởi tố, tháng 10 bắt giam bị can. Tôi còn nhớ, trong các cuộc họp trước đó, nhiều ý kiến nói “khuyết điểm rõ rồi, phải đình chỉ công tác đi”.
- Cụ thể là ai đề nghị ?
- Tôi. Việc đình chỉ bàn rất nhiều, có tuần 3-4 buổi; có hôm bàn đến 9-10h đêm. Lúc đó tôi chán lăm, nói: “Có cái việc như vậy, làm gì phải bàn mãi thế”. Bởi có những lần thống nhất xong rồi, hôm sau lẽ ra có quyết định thì lại chẳng thấy đâu. Tôi cho rằng thất thoát lớn nhất là vào thời gian này. Bộ không tạo điều kiện nữa nhưng vẫn để Kim Oanh làm giám đốc, giữ con dấu, nắm tài khoản ở ngân hàng ..., cô ta bí quá thì phải mang một tài sản đi thế chấp 2-3 ngân hàng. Tôi nhớ, lúc thanh tra mới phát hiện Công ty Tiếp thị đầu tư nông nghiệp & phát triển nông thôn mất cân đối 70 tỷ, trong đó thất thoát 51 tỷ đồng. Do không xử lý nên đến khi bị bắt, theo xác định của Cơ quan điều tra, thất thoát đã tới 106 tỷ. Như vậy là khoảng 50 tỷ đồng thiệt hại sau thanh tra.
- Ông có thể nói rõ hơn về con số này ?
- Văn bản đầu tiên của Cơ quan điều tra nói là thất thoát 106 tỷ đồng, trong đó 95 tỷ đồng là VND, còn lại là USD; còn con số đưa ra Quốc hội là 70 tỷ. Thật ra Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn không ai biết thiệt hại chính xác là bao nhiêu. Giả sử con số Quốc hội là đúng, thì tại sao khi thanh tra phát hiện thất thoát 51 tỷ, đã đình chỉ hết mà vẫn mất tiếp gần 20 tỷ đồng nữa. Nói thật, nếu xử lý cô Oanh lúc đó, tôi giao 20.000 m2 đất cô ấy quản lý cho người khác, chỉ với giá 3 triệu đồng/m2 thì tôi đã có được 60 tỷ để bù đắp thiệt hại.
- Ông biết rõ thế sao không có biện pháp ngăn chặn ?
- Kiểu phân công công việc của Bộ này không ai có thực quyền. Vì thế hỏi ai phụ trách công ty cô Oanh thì xét cho cùng chẳng ai cả. Văn bản đưa lên, văn phòng trình gặp ai người đó ký, dẫn tới nhiều mâu thuẫn trong quản lý, điều hành. Như vụ mua khách sạn Planet 120 Quán Thánh, chủ trương do ông Hà thứ trưởng ký, đến dự án khả thi lại đưa tôi ký.
Việc này tôi bị Cơ quan điều tra vặn mãi, bởi lúc đó tôi có nói khách sạn đó chỉ 23 tỷ, nhưng cuối cùng ký 34 tỷ. Tôi đã trả lời rằng giá 23 tỷ chỉ là ý kiến cá nhân tôi, trong khi Bộ làm việc theo chế độ tham mưu. Thế nên tất cả các cục vụ tham mưu là 34 tỷ, cơ quan phụ trách xây dựng cơ bản cũng trình như vậy. Tôi gạt đi họ không chịu, mà giải thích thế này: Đây mới chỉ là dự toán, để con số này phòng khi có phát sinh thì có tiền đó mà làm ngay, về sau thừa vốn thì trả lại nhà nước. Nếu duyệt sát quá thì lại phải làm thủ tục xin từ đầu. Tôi cũng hiểu thủ tục xây dựng cơ bản phức tạp nên chấp nhận. Nhưng tôi ghi đó là giá tạm tính, và còn chua thêm nội dung về nhiệm vụ cơ quan đầu tư. Nhưng cuối cùng cô Oanh không làm gì cả.
- Ông có thể nói rõ hơn về việc mua bán khách sạn này ?
- Chưa có dự án nào tôi làm kỹ như vậy, bởi tôi biết bên mua, bên bán “xập xí, xập ngầu” với nhau. Tôi đã yêu cầu phải thương lượng lại với bên bán để xác định giá, nhưng cô Oanh không làm gì cả, và cuối cùng đưa thứ trưởng khác ký. Mặt khác, các văn bản trình dự án lại do nhiều bộ phận làm: ban đầu Vụ Xây dựng cơ bản trình, lúc xác định giá mua thì Vụ Kế hoạch và Vụ Tài chính trình. Khi đưa thứ trưởng Ngô Thế Dân ký họ không báo cáo gì ông ấy cả. Theo quy định thủ tục trình ký, tờ trình phải có ý kiến của người viết văn bản, ý kiến lãnh đạo vụ, rồi sau đó mới đến thứ trưởng. Sau khi thứ trưởng ký, có trường hợp người ta giao chánh văn phòng, có trường hợp đích thân bộ trưởng duyệt, văn bản mới phát hành. Thế mà họ chẳng làm gì hết, viết xong là trình lãnh đạo Bộ ký ngay. Thậm chí có lần tôi phát hiện cấp vụ không đọc.
- Có trường hợp nào văn bản của Bộ mà lại để Lã Thị Kim Oanh soạn không ?
- Có. Cô Oanh này thao túng đến mức tất cả các dự án của cô ta không cái nào xuất phát từ nhiệm vụ của Bộ. Tôi hình dung là “gần như có đạo diễn hết”. Cho nên có văn bản chuyên viên làm, có cái không.
Vụ mua khách sạn Planet, do không quy định rõ chức năng, nên bắt đầu thì một vụ trình, cuối do vụ khác trình; đầu một thứ trưởng ký, cuối thứ trưởng khác ký nên văn bản “lọt” tất. Và bây giờ mới truy lỗi nhau.
Về phần tôi, văn phòng trình, tôi xem thấy chưa đầy đủ thì tôi thêm cho đủ, như vậy là làm tròn nhiệm vụ. Thật ra, lãnh đạo nhiều việc, văn phòng trình thì cứ thế mở ra mà ký chứ hơi đâu mà đọc. Mỗi ngày cả trăm văn bản, đọc sao nổi. Qua đây thấy lề lối làm việc không chặt chẽ, phân công không rõ ràng, cán bộ vừa không biết làm việc, vừa kém phẩm chất.
- Tại sao ông nghĩ là “có đạo diễn” ?
- Vì có văn bản cô ta chuẩn bị trước, nói sao đó với vụ trưởng, thế là vụ trưởng ký. Có những lần lãnh đạo bận vắng cả, mà cô ta biết mang văn bản hỏi ý kiến, rồi lần lượt được Vụ Tài chính, Vụ Xây dựng cơ bản, Vụ Kế hoạch ... ký duyệt. Tất cả ký rồi đưa trình lãnh đạo Bộ ký, coi như xong văn bản của Bộ. Có văn bản của Bộ rồi, cô ta lại tập hợp được văn bản khác, rồi như máy tính ráp lại thành hồ sơ, và roẹt một cái, tiền trong két bật ra. Thậm chí ngân hàng không chuyển tiền vào tài khoản mà cấp cho cô ta tiền mặt, tín phiếu. Có tiền rồi, cô ta chi cho ai, bao nhiêu... mình không biết không hay. Như vậy là phải có đạo diễn từ A đến Z.
- Như ông nói thì dường như có một thế lực thao túng hết. Nhưng ông là thứ trưởng sao lại ký xác nhận vay vốn ?
- Tất cả các văn bản Bộ ký vay vốn, theo tôi là vô giá trị. Cái đó đâu phải là bảo lãnh. Nhu cầu vốn, như mua Planet là có, nhưng vay thế nào, ngân hàng phải làm đúng thủ tục. Bộ "ký nháy” xác nhận, không có nghĩa là bên vay đòi bao nhiêu, ngân hàng giải quyết bấy nhiêu. Tôi có dễ dãi khi ký, nhưng đó là ký chuyển, đề nghị. Còn ngân hàng, kế hoạch cho vay 12 tỷ mà anh xuất đến tỷ thứ 13 dứt khoát sai. Thứ hai anh chuyển tiền lòng vòng cho nó cũng sai. Thứ ba, không bao giờ được chuyển tiền mặt.
- Việc ký xác nhận như vậy có ai gây sức ép không ?
- Không ai ép được tôi. Tôi thấy việc đó ký được thì tôi ký, và đều nhắc thư ký là: "Hồ sơ còn thiếu chữ ký ông này, nhưng tôi không chờ được, cứ ký trước, còn anh phải ốp cho nó đầy đủ thủ tục". Bộ có quy chế như vậy, mình cũng dặn anh em làm vậy. Riêng việc ký văn bản trình 34 tỷ đồng mua khách sạn Planet, lúc đó tôi nghĩ mọi việc cứ phải dần dần làm cho rõ, chứ mình chống thế nào được tập thể. Chúng nó thỏa thuận với nhau từ tháng 3/1997 rồi, còn mình ký 5/12/1997 ăn thua gì.
Còn với người khác, tôi thấy ông Hà kể là bị anh chánh văn phòng (Lã Văn Lý) ép. Cậu ta nói: “Việc ấy có cái gì đâu mà anh không ký. Anh không ký có người khác ký”. Việc này ông Hà đã nói lại với Cơ quan điều tra.
- Ông thừa nhận là mình ký hơi dễ dãi. Vậy mỗi lần ký, ông có được bồi dưỡng ?
- Không bao giờ cô ta đưa tiền. Cô ta không dám, bởi ai có thể tham nhũng chứ tôi thì không. Trong đời, tôi chưa vay ai đồng nào, không ách việc của ai lại với động cơ trục lợi. Nhiều anh em nói tiền là lẽ thường, làm quan phải có bổng lộc. Nhưng thật ra đó chỉ là 5-3 trăm nghìn, hay đi nước ngoài, tôi không có thì họ cho 100 USD để tiêu.
- Nếu bị khởi tố, ông thấy có oan không ?
- Tôi nghĩ là nếu quan chức nhà nước dính vào với hành vi tiếp tay thì phải xử lý. Nhưng “tiếp tay”, nói thật trong chúng tôi không có anh nào.
Sao chính quyền ta bây giờ lại sợ nhân dân đến thế !
Nguyễn Thanh Giang
Một vài cán bộ công an muốn tỏ ra chân tình đã từng nói với tôi : "Anh viết thì cứ viết nhưng chỉ nên gửi cho chúng tôi và các đồng chí lãnh đạo, không nên tán phát hoặc đưa lên internet".
Những bài tôi viết xong, trước đây tôi thường tức tốc đem đến tận văn phòng Trung ương Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội ... tự tay gửi ở các phòng văn thư. Sau đó, chờ đợi ít lâu rồi mới tán phát và đưa lên internet. Hơn một năm nay, vừa mệt mỏi vừa ngại ngần trước sự phiền toái đó, tôi đành chỉ gửỉ qua bưu điện hoặc bằng chuyển phát nhanh, hoặc bằng thư thường. Bài "Nhìn nhận về đa cực hoá thế giới" viết xong thì được biết một số hoạt động liên quan đến quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, đặc biệt là chuyến đi của đại tướng, bộ trưởng quốc phòng Phạm văn Trà sang Mỹ sắp diễn ra, tôi, một mặt gửỉ chuyển phát nhanh đến ông Trà, một mặt lại chịu khó phóng xe trực tiếp đến văn thư của các cơ quan Đảng và Nhà nước. Đến Bộ Ngoại giao thì đường bị cấm vì đúng ngày khai mạc Kỳ họp Quốc hội, tôi vòng qua 10 Nguyễn Cảnh Chân, định gửi cho ông Trương Vĩnh Trọng- trưởng ban Nội chính, ông Đỗ Nguyên Phương - trưởng ban Khoa Giáo và cho ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Đảng, rồi rẽ sang gửi cho các uỷ viên Trung ương ở Ban Kiểm tra Trung ương Đảng.
Cả một đoạn phố Nguyễn Cảnh Chân có mấy cơ quan Đảng đóng ở đó, khác với mấy năm trước, nay đã bị cấm qua lại! Tôi thuyết phục đồng chí công an thế nào cũng không được. Tôi bảo tôi chỉ vào văn thư gửi một văn bản góp ý về đường lối đối ngoại, không làm phiền bất cứ ai. Đồng chí công an bảo : "Chúng cháu không biết bác gửi văn bản góp ý hay đơn kiện". Tôi bảo : các đồng chí làm thế này là sai luật, nếu gác cơ quan thì phải có trạm gác, nếu đứng giữa đường thế này thì chỉ có thể khám xem ai không đem vũ khí, không đem chất nổ thì phải cho người ta đi qua, tôi sẵn sàng để đồng chí khám người. Đồng chí công an trả lời "Cháu không dám khám bác nhưng cháu có nhiệm vụ không cho bất cứ ai đi qua nếu không có giấy mời hoặc giấy giới thiệu". "Tôi đã nghỉ hưu nên chỉ có chứng minh thư". "Không được bác ạ!"
Tôi ghé qua Ban Đối ngoại Trung ương và 1a Hùng Vương. May sao tôi đã vào lọt được văn thư và để ở đấy mấy bản gửi ông Nguyễn văn Son - chủ nhiệm uỷ ban Đối ngoại TW, tổng bí thư Nông Đức Mạnh, trưởng ban bí thư TW Phan Diễn, trợ lý TBT Hữu Thọ ...
Tôi vòng qua Văn phòng Chính phủ và Văn phòng Chủ tịch Nước. Thấy có lính gác từ đầu đường. Tôi đành dán tem gửi qua bưu điện một cách hú hoạ. Để tăng phần nào khả năng bài viết đến tay Chủ tịch Nước, ngoài bì tôi chỉ đề gửi ông Chánh Văn phòng Chủ tịch Nước. Trong phong bì kèm bức thư ngắn : "Kính gửi đồng chí Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch Nước. Kính nhờ đồng chí chuyển giúp bài viết này đến tay đồng chí Chủ tịch Nước. Anh Trần Đức Lương rất biết tôi. Xin chân thành cảm ơn".
Hai ngày sau, tôi đến Văn phòng Quốc hội ở 37 Ngô Quyền. Tôi đề nghị người gác cổng cho vào Phòng Văn thư. "Không vào được bác ạ". "Tôi không có đơn kiện gì đâu đồng chí ạ, tôi chỉ gửi bản góp ý về đường lối đối ngoại một cách rất đứng đắn". "Thư từ gì bác cứ gửi qua bưu điện, không đưa được vào văn thư đâu bác ạ !". "Đây, đồng chí xem, chỉ có ba văn thư tôi gửi phó chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được, chủ nhiệm uỷ ban đối ngoại Vũ Mão và ông Chủ nhiệm uỷ ban An ninh và Quốc phòng của Quốc hội. Hoặc đồng chí cho tôi vào đưa cho văn thư, hoặc tôi để đây, đồng chí xem xong thấy nội dung tốt thì đồng chí chuyển. Nếu đồng chí không bằng lòng thì đốt đi cũng được". "Cháu không dám nhận, cũng không dám xem văn bản của bác" ...
Phòng thường trực xây cao, người thường trực chỉ cỡ tuổi con trai tôi, tôi đứng dưới đường ngửa cổ lên, nuốt nước mắt vào lòng, trình bầy thế nào cũng không được. Tôi đành đưa danh thiếp có ghi học hàm, học vị và giải thích thêm : đồng chí hãy nhìn xem tôi có cái gì bất thường đâu, tôi thực sự bình thường, tỉnh táo và ôn hoà đấy chứ. Cuối cùng thường trực mới bấm chuông gọi văn thư. Trước khi nhận, nhân viên văn thư còn cằn nhằn "Cái này lẽ ra bác phải đưa đến 37 Hùng Vương vì Uỷ ban An ninh Quốc phòng và ông Vũ Mão làm việc ở đấy".
Tôi về nhà, huyết áp tăng đột ngột, trằn trọc không sao ngủ được. Buồn tủi quá ! Nhục nhã quá ! Uất ức quá ! Mình là con cháu Đông Kysốt, bà Nữ Oa ... hay chỉ là một con dã tràng ? Sao đã không giúp được tý việc gia đình nào lại còn bỏ ra không biết bao nhiêu tiền đáng nhẽ phải giành dụm cho con, cho cháu để mua hết sách này báo kia, đọc ngày đọc đêm. Mỗi bài viết xong, riêng tiền photocopy và cước phí bưu điện để gửi đi có khi cũng bằng lương tháng của một công nhân. Sao không đành "Kính nhi viễn chi ?". Sao không biết "Bưng tai ngoảnh mặt làm ngơ. Rằng khôn cũng mặc, rằng khờ cũng thây". Đến như Phan Bội Châu xưa cũng từng có lúc phải đau đớn thốt lên : "Bâng khuâng đỉnh núi chân ngàn. khói tuôn khí uất sóng cồn trận đau. Nghĩ nông nỗi đồng bào thêm ngán". Huống chi mình nay đã gần bẩy mươi : "Tuổi già giọt lệ như sương. hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan" !
Chỉ băn khoăn rằng sao chính quyền ta bây giờ lại khinh dân, sợ dân đến thế ? Ở Trung ương mà thế này, ở địa phương, người dân còn bị hắt hủi, hành hạ đến mức nào ?
Mong cho đến bao giờ trời đất lại sáng lên. It nhất là như ngày xưa !
Hà nội 22 tháng 10 năm 2003
Nguyễn Thanh Giang
Nhà A13P9- Tập thể Phòng không Hoà Mục
Phường Trung hoà - Quận Cầu Giấy
----- O -----