Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam

Điện Thư - Số 04
Tháng 6 năm 2003

Điện Thư Câu Lạc Bộ Dân Chủ xin trân trọng kính chuyển đến các Diễn Đàn Điện Tử, Cơ Quan Ngôn Luận và Độc Giả trong và ngoài nước các tin tức, sự kiện và bài vở liên quan đến tình hình dân chủ Việt Nam. Như đã minh định qua bản thông cáo và thư ngỏ của Câu Lạc Bộ Dân Chủ trước đây, sự đàn áp thô bạo của cơ chế độc tài sẽ không làm chùn bước và bịt miệng được các tiếng nói tranh đấu dũng cảm cho nền dân chủ Việt Nam - Chắc Chắn Đồng Lòng Sẽ Bẻ Gãy Họng Súng Của Độc Tài. Mọi liên lạc xin gửi về : caulacbodanchuvietnam@yahoo.com

Tin Ghi Nhận:

  • Sau khi bắt giam nhà nghiên cứu Trần Khuê và đại tá- nhà báo Phạm Quế Dương- hai người đại diện của Hội Nhân Dân Việt Nam Chống Tham Nhũng tại hai miền bắc – nam. Chính quyền Hà Nội dường như muốn đàn áp hội chống tham nhũng đến cùng. Họ đã bố trí một lực lượng hùng hậu công an mật tại Hà Nội và Sài Gòn (đặc biệt là Sài Gòn) nhằm theo dõi sát sao tất cả những ai dính dáng, liên quan đến hội. Đã ba tháng trôi qua (kể từ ngày bắt hai ông đứng đầu) tình hình vẫn hết sức căng thẳng.

  • Khoảng 9 giờ đêm ngày 14/5/2003 gia đình bà Phạm Quế Dương có nhận được một văn bản của công an yêu cầu bà có mặt tại số 7 Nguyễn Đình Chiểu (một trụ sở trực thuộc bộ Công an), để "làm việc" vào sáng ngày 15/5/2003.
    Lý do: cách đây ít lâu, bà Đỗ Thị Cư (tức bà Phạm Quế Dương) có viết một đơn kiện công an về việc đã bắt giữ bà vô lý 11 ngày và giữ của bà 2001 USD đến nay vẫn chưa trả lại. Công an cự nự bà về việc: tại sao cuối đơn kiện lại có mục gửi bạn bè. Bà Phạm Quế Dương trả lời: không có điều khoản nào của luật pháp nước Việt Nam cấm gửi đơn kiện cho bạn bè đọc tham khảo. Công an đã cứng họng không bắt bẻ được. Họ chuyển sang chuyện bắt giữ : “công an thành phố Hồ Chí Minh bắt bà thì bà phải vào đó mà kiện chứ !" , bà Phạm Quế Dương trả lời rằng, bà không việc gì phải đi đâu cả vì gia đình bà đang sinh sống tại Hà Nội thuộc lãnh thổ Việt Nam, công an Việt Nam làm sai pháp luật, xâm phạm danh dự công dân của bà thì bà có quyền phát đơn kiện. Khi bà Dương lên tiếng đòi trả lại gia đình bà 2001 USD, công an sau vai giây lúng túng đã trả lời “cái đó còn phải xin ý kiến cấp trên" !! (sao họ không nói là công an TPHCM thu của bà thì bà phải vào đó để đòi nhỉ ?!). Cuộc tiếp xúc kéo dài 2 ngày 15 và 16/5/2003, nhưng không đi đến kết quả cụ thể gì.
    Công an cũng phát biểu với bà là có thể ông Dương sẽ bị đưa ra toà xử trong tháng 6 này.

    ----- O -----

    Những tiếng nói Dân chủ:

    Thư ngỏ: Gửi các ông trong Bộ Chính Trị Việt Nam
    Đồng kính gửi những ai quan tâm.

    Ngày 25/9/2002 công an TP Hà Nội đã bắt giữ anh Nguyễn Vũ Bình. Cho đến nay vẫn không hề được đưa ra xét xử. Người nhà anh Bình không được biết về tình trạng sức khoẻ thực sự của anh Bình, hiện nay sống chết ra sao. Đây là một việc làm bất chấp pháp luật và bất nhân vô cùng. Việc bắt giữ này không khác gì một vụ bắt cóc trắng trợn. Gây cho vợ, hai con nhỏ, và bố mẹ già của anh một xáo trộn rất lớn trong cuộc sống. Họ, đã 8 tháng rồi, phải sống trong nỗi sợ hãi lo âu, vì thỉnh thoảng công an lại đến nhà hàm ý đe doạ, phải chịu cảm giác bị xúc phạm nặng nề vì Nguyễn Vũ Bình bị chính quyền vu cáo là gián điệp thông qua tờ An Ninh Thế Giới và các thông báo gửi đi các chi bộ Đảng. Mọi người xa lánh vì không hiểu sự thật hoặc sợ bị liên luỵ.

    Mỗi khi viết đơn từ phải viết dòng chữ "Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam độc lập - tự do - hạnh phúc” thật sỉ nhục cho ngòi bút biết bao ! Đâu là tự do ? Đâu là hạnh phúc ? Khi phẩm giá con người bị chà đạp đến như thế !

    Nguyễn Vũ Bình có viết một số bài ký tên, địa chỉ đàng hoàng, công khai. Nếu nội dung không phù hợp với đường lối của Đảng thì các ông phải tổ chức tranh luận cho đến nơi đến chốn để đi đến thống nhất. Tại sao cả một bộ máy lý luận lại không cử ra được vài người làm việc đó cho có văn hoá một chút ?!!. Tại sao khi Nguyễn Vũ Bình viết đơn xin thành lập một Đảng mới đối trọng với ĐCS VIỆT NAM để cùng nhau bàn bạc đưa đất nước thoát ra cảnh chậm tiến, thì Bộ Chính Trị lại phải hoảng hốt bắt phải lên trụ sở của Bộ công an để gây phiền hà, sách nhiễu ? Tại sao khi Nguyễn Vũ Bình viết bài chất vấn về bản hiệp định Biên Giới và hiệp định phân chia Vịnh Bắc Bộ, các ông không dám đưa bản đồ và văn bản hiệp định ra công khai ? Anh Nguyễn Vũ Bình làm việc đó chỉ vì lợi ích của dân tộc. Đó là hành động dũng cảm vượt qua mọi nỗi sợ hãi lên tiếng bảo vệ mảnh đất vùng trời đã chất bao xương máu của cha ông !. Các ông bắt anh Nguyễn Vũ Bình phải chăng là để bịt miệng anh, không cho anh ấy nói lên sự thật hành vi phản Tổ tiên, phản lịch sử của các ông ?

    Toà án tư pháp nằm trong tay các ông. Nhưng các ông nên nhớ rằng: Toà án lương tâm, toà án dư luận, toà án lịch sử, sẽ không bao giờ buông tha cho các ông, nếu như các ông không sớm sám hối sửa chữa những sai lầm của mình.

    Chúng tôi, Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam, về trường hợp của người thanh niên yêu nước đầy quả cảm Nguyễn Vũ Bình, xin long trọng tuyên bố:

    Yêu cầu bộ Chính Trị Việt Nam thực hiện nhanh chóng một trong hai điều sau đây:

    1. Thả vô điều kiện công dân Nguyễn Vũ Bình.
    2. Nếu xét xử thì phải xét xử công khai có sự góp mặt của nhân dân, có luật sư tranh tụng đầy đủ, có các nhà báo trong và ngoài nước tham dự, cáo trạng (nếu có xét xử) phải được công bố.

    Nếu không làm được một trong hai điều trên, chúng tôi sẽ cùng nhau vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các ông phổ biến rộng rãi trên toàn quốc, để toàn thể Nhân Dân biết được và phán xét. Khi đó, bản thân các ông và con cháu các ông sẽ phải chịu sự trừng phạt của luật quả báo, các ông sẽ phải chịu sự nguyền rủa của Nhân Dân.

    Kính Thư.
    Trần Hoàng Lê

    Việt Nam - Ngày 25 tháng 5 năm 2003.
    Ủy Ban Vận Động Tự Do cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam

    ----- O -----

    Nỗi Đau Của Một Người Dân

    Thanh Hải

    Họ là những người dân chất phác, sống một cuộc sống lầm than, nghèo khổ, tưởng như không còn gì để mất. Nhưng không, họ đã bị bóc lột đến tấc đất cuối cùng ....

    * * *

    Người ta đã nói nhiều về cái bất nhân, thất đức của chính quyền cộng sản Việt Nam. Tôi cũng được chứng kiến nhiểu cảnh ngộ rất thưong tâm của người dân trên đất nước này. Họ là những nạn nhân của cả chế độc tài-toàn trị cộng sản. Họ là những người dân chất phác, sống một cuộc sống lầm than, nghèo khổ, tưởng như không còn gì để mất. Nhưng không, họ đã bị bóc lột đến tấc đất cuối cùng. Trong bài viết nhỏ này, tôi muốn đề cập đến một số phận như thế. Đó là ông Hà Văn Chung và gia đình ông.

    * * * * *

    Ông Hà Văn Chung sinh năm 1950, tại xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Năm 18 tuổi, ông vào quân đội Miền Bắc, tham gia giải phóng Miền Nam. Sau chiến tranh, ông trở về quê hương sinh sống. Hoàn cảnh kinh tế quá nghèo khó, ông đã động viên vợ con đi vùng kinh tế mới (theo chủ trương di dân làm kinh tế mới của chính phủ). Đến năm 1990 gia đình ông mới có mặt tại Tổ 7, ấp 2, xã Minh Lập, huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước. Vùng đất mà ông mô tả là "bom đạn tàn phá chỉ có cỏ và tranh, le mọc đầy. Nói đúng hon là đất trống đồi trọc ...”. Vợ chồng ông đã lao động rất vất vả mồ hôi nước mắt mới khai phá được hơn 106063 m2. Năm 1996, một công ty của Đài Loan là công ty trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH) Quảng Đức có hỏi mua đất của ông nhưng ông không bán vì họ trả giá quá rẻ mạt. Để trục lợi, công an và chính quyền địa phương đã bỏ tiền mua cán bộ địa chính tỉnh về xã Minh Lập đo đạc, xác lập bản đồ địa chính theo ý đồ của họ và bán đất cho công ty TNHH Quảng Đức theo bản đồ đó. Cũng theo bản đồ đó thì gia đình ông Hà Văn Chung đã "xâm lấn" 140896,5 m2 , nói cách khác, chúng đã ngang nhiên bán mảnh đất của gia đình ông Hà Văn Chung cho nước ngoài. Thật là một sự việc hết sức phi lý !

    Ngày 25/12/1999, do ông bị bệnh rất nặng, gia đình đã phải đưa ông về quê hương chữa bệnh, nhà cửa tạm thời phải gửi người quen trông nom giúp.

    Năm 2000, công ty Quảng Đức khởi kiện theo bản đồ địa chính của tỉnh cấp cho (kèm theo khi công ty mua đất từ chính quyền xã). Do bệnh tình như vậy, ông Hà Văn Chung đã không thể có mặt tại phiên toà. Toà án nhân dân huyện Bình Long xử vắng mặt đã kết luận:

    1. Thừa nhận diện tích đất ông Hà Văn Chung sử dụng ổn định là : 106063 m2.
    2. Buộc ông Hà Văn Chung phải trao trả công ty TNHH Quảng Đức diện tích “chiếm trái luật” là 140896,5 m2

    Gia đình ông từ năm 1990 đến năm 2000 chỉ canh tác trên diện tích 106063 m2. Điều này được sự chứng thực của toàn thể bà con trong ấp. Làm sao có chuyện chiếm 140896,5 m2 ? Như vậy là ông sẽ phải mất toàn bộ số đất của gia đình ông là : 106063 m2, đồng thời phải chạy vạy đi vay đâu cho đủ (140896,5-106063) = 34833,5 m2 để “trả” cho công ty Quảng Đức bây giờ ? Có người thương ông, xui ông : “Hay là thử đi mượn tạm bác Nông Đức Mạnh, bác Đỗ Mười xem sao ?”. Nghe thật mỉa mai đau xót biết nhường nào !

    * * *

    Ngày 8/8/2000, khi bệnh tình đã đỡ gia đình mới đưa vô Bình Phước, ông Chung vô cùng kinh ngạc và phẫn uất về quyết định của toà án huyện Bình Long. Người ta lấy lý do là hết thời gian kháng án, không thấy ông Chung làm đơn, nên bản án coi như có hiệu lực pháp luật. Tại sao có thể thực thi pháp luật một cách trí trá như vậy !? Bị cáo là người đang bệnh nặng, phải về quê điều trị, nửa năm sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm, ông mới đỡ bệnh để có mặt tại Bình Phước. Làm sao có thể kháng án kịp thời hạn được ?! Việc thực hiện phiên toà sơ thẩm đã không tuân thủ nghiêm ngặt trình tự tố tụng và bất chấp hoàn cảnh hiện tại của đương sự. Ông Chung khiếu nại lên toà án nhân dân tỉnh Bình Phước. Toà có giấy hẹn 8/6/2001 có mặt để giải quyết. Nhưng không hiểu sao đến ngày 7/6/2001 phòng thi hành án do trưởng phòng Nguyễn Văn Triệu cầm đầu đã đưa 5 máy cày cỡ lớn, 2 máy kéo, 5 xe 4-12 chỗ ngồi, 40 công an được trang bị mũ sắt, áo giáp, súng dương lê, dùi cui, roi điện, 30 người khác mặc thường phục với dao, búa, rìu, xà beng, đồ khiêng đến phá nhà ông Hà Văn Chung và mang đồ đạc đi trước sự ngỡ ngàng của bà con. Chúng ta hãy nghe một đoạn trong đơn kiến nghị lần thứ nhất của ông : "Máy cày xông vào cày tàn phá cây cối, hoa màu, nhà cửa bàn thờ tổ tiên của gia đình tôi văng tung toé đưa đẩy gia đình tôi đến cảnh sống màn trời chiếu đất. Bọn chúng thực hiện kế hoạch lấy sạch, phá sạch, vợ con tôi đều ngã bệnh, không cơm ăn, không nhà cửa …". Máy cày, máy kéo đã phá của gia đình ông là 0.8 ha bắp ; 5.4 ha mỳ ; 500 cây điều cao sản. Cũng trong lá đơn này ông viết: “Gia đình tôi không còn nước mắt để khóc nữa, vì đám đất này đổi lấy bằng mồ hôi, máu mà hôm nay là nước mắt". Trong lá "đon kêu cứu" của ông viết ngày 21/6/2002 có đoạn: “Tôi đang ở trong nhà kêu cứu bị chích roi điện ngất xỉu phải đưa đi cấp cứu. Sau một ngày tàn phá toàn bộ gia sản của tôi bị huỷ hoại, toàn bộ số đất 106063 m2 bị lấy đem giao cho công ty Quảng Đức, tôi không nhà không cửa và không tấc đất cắm dùi".

    Ông Chung đã 7 lần viết đơn gửi trung ương, gửi các nhà lãnh đạo như ông Trần Đức Lương, ông Phan Văn Khải, ông Nguyễn Văn An, ông Nông Đức Mạnh, chánh án toà án Nhân dân tối cao, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, bộ trưởng bộ tư pháp, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, … nhưng đáp lại ông chỉ là một khoảng trống im lặng lạnh lùng. Trong nỗi tuyệt vọng vì bị áp bức và bỏ rơi ông đã dùng máu của chính mình để ký dưới đơn kêu cứu.

    Hỡi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các ông có thấy nỗi thống khổ của người dân đang sống dưới chế độ của các ông hay không ? Hỡi người dân lương thiện, có ai nghe đồng bào mình đang bị chính quyền vùi dập hay không ?

    Tháng 5/2003

    Nơi nhận:

    ----- O -----

    Hành trình ngược chiều

    * thư ngỏ của cụ Cao Hồng Lĩnh * nét mới của tình hình * các vị VKYN Nguyễn Chánh Khê, Nguyễn Đăng Hưng, Đặng Lương Mô … nghĩ gì ? * lương tâm trí tuệ kẻ sỹ

    Bùi Tín

    Từ trong nước chuyển ra một lá thư ngỏ dài 3 trang, đề ngày 22 tháng 4, gửi rất rộng rãi đến các vị lãnh đạo đảng và nhà nước, bộ tư pháp, bộ công an, viện kiểm sát nhân dân tối cao, toà án nhân dân tối cao, các vị lão thành cách mạng, các tướng lĩnh, cựu chiến binh, các luật gia, luật sư, các cơ quan thông tấn, báo chí …. Ký tên : «Cao Hồng Lĩnh, lão thành cách mạng, nhà báo hưu trí, quận Tây Hồ, Hànội». Thư ngắn mà mang sức nặng ngàn cân ! (*)

    Lá thư đang làm nhức đầu các quan lớn trong bộ chính trị, các quần thần trong ban tư tưởng và văn hoá, trong ban bảo vệ đảng, bộ công an … Trước hết vì tác giả của bức thư : một nguyên lão đại thần của chế độ, có hơn 70 năm tuổi đảng, từng hoạt động chính trị từ năm 1938, có tên trong lịch sử đảng CS, từ khi có tổ chức tiền thân của nó là Thanh niên cách mạng đảng trước năm 1930. Đây là nhân vật toàn đảng biết tên, cả xã hội biết tiếng, bạn chiến đấu của Phùng Chí Kiên, Hà Huy Tập, hồi cuối năm 1939 từng cùng Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp sang Hoa Nam gặp Nguyễn Ái Quốc … Ông Cao Hồng Lĩnh sống ít ồn ào, không tham vọng cá nhân, hoạt động lâu trong ngành đối ngoại của đảng, từng hoạt động trong cộng đồng ngừơi Việt ở đông-bắc Thái lan,về sau chuyên làm công tác liên lạc với các đảng cộng sản bí mật ở Đông Nam Á như ở Thái lan, Mã lai, Nam dương, Phi-líp-pin. Tính ông ngay thẳng, bộc trực, ham đọc sách văn học, thường viết báo ký tên Hồng Lĩnh phê phán những tiêu cực xã hội, kể cả những quan chức bê bối; ông về hưu hơn 20 năm nay, tại ngôi nhà nhỏ trong làng Yên phụ, cạnh hồ Tây, trồng hoa, chơi cá vàng, luyện yôga, đọc sách; do quan hệ rộng rãi, cởi mở, bạn bè rất đông, thân thiết như cụ Lê Giản, cán bộ lão thành, thượng tướng Hoàng Minh Thảo, đặc biệt là nhiều cựu chiến binh, bạn vong niên, các nhà thơ, văn nghệ sỹ trẻ … đến để bàn luận chuyện thời sự, văn học, chuyện nhân tình thế thái; ngôi nhà như một mini câu lạc bộ.

    Con người như thế vừa cất lên tiếng nói ngay thẳng của mình sau khi theo dõi kỹ 2 phiên toà sơ thẩm (ngày 20/12/2002) và phúc thẩm (ngày 1/4/2003) xử anh thanh niên cựu chiến binh Nguyễn Khắc Toàn về «tội làm gián điệp» và tuyên án 12 năm tù giam và 4 năm quản chế.

    Bức thư ngỏ chỉ rõ việc xử án này là điều phi lý, vì hội đồng xét xử không hề trả lời được chất vấn, phản bác của bị cáo và 2 luật sư là : tội gián điệp thì làm gián điệp cho ai ? cho nước ngoài nào ? để nhận bao nhiêu tiền ?; vì việc xử án rất khuất tất, vội vàng, chỉ vài giờ một vụ xử, lại không cho công chúng đến dự, ngăn chặn các nhà báo trong và ngoài nước đến quan sát đưa tin. Bức thư kết luận : toà án đã xét xử theo lệnh trên chứ không theo luật pháp, và khẳng định : cựu chiến binh Nguyễn Khắc Toàn là một người đấu tranh cho dân chủ hiện nay; theo luật pháp anh là người vô tội; không có một bằng chứng, một tang chứng nào có thể khép tội anh Toàn vào tội danh gián điệp cả.

    Bức thư chỉ rõ rằng : «việc xét xử như thế là bằng chứng để thế giới lên án nước ta vi phạm dân quyền, vi phạm nhân quyền; còn người trong nước thì đã biết quá rõ đó là những người yêu nước, hiểu biết, sống có nhân cách, không tham ô, tham nhũng, ăn chơi phè phỡn, tham quyền cố vị». Đoạn này của bức thư rõ ràng là nhằm răn dạy các người đương chức, đương quyền, kể cả các quan chức hiện ở trong trung ương đảng, trong bộ chính trị, như những Nông Đức Mạnh, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, vốn là đàn em, là cấp dưới của người viết bức thư ngỏ này.

    Mấy hàng kết luận của thư ngỏ mới thật là tâm huyết : «Biết mà không nói là có tội, để rồi sau này lại phải hối hận ăn năn như trong cải cách ruộng đất, như trong cải tạo công thương, như trong vụ Nhân văn Giai phẩm, vụ Xét lại chống đảng thì đã muộn, hỏi có ích gì nữa ! Giá như hồi ấy có nhiều người mạnh mẽ can ngăn thì sai lầm lúc ấy biết đâu lại chẳng khác đi, sẽ không trở thành vết nhơ cho hậu thế mai mỉa !».

    Bức thư ngỏ ngay thẳng tâm huyết của một đại công thần của chế độ, của một cán bộ cộng sản gộc nói lên một nét mới của tình hình chính trị trong nước : chính sách khủng bố những nhà dân chủ, chính sách cậy quyền thế để trấn áp thô bạo những người yêu nước thương dân thật lòng, chính sách thô bạo, độc ác, thất nhân tâm như thế đang bị chống đối ngày càng quyết liệt trong công luận xã hội, trong hàng ngũ đảng, trong cả những người xưa nay gắn bó cả đời mình với đảng cộng sản. Có thể nói những phiên toà độc đoán chà đạp ngang nhiên lên luật pháp của nhóm cầm quyền bạo ngược giữa lúc họ leo lẻo về xây dựng một nền tư pháp công minh, một xã hội công bằng, văn minh … là những giọt nước làm tràn ly nước chứa đựng sự phẫn nộ và khinh thị của toàn xã hội. Không một người Việt nam lương thiện, có ý thức yêu nước và công tâm nào còn có thể tán thành những hành động phi lý kiểu cường hào đè nén dân lành đến như vậy. Hành trình của con người gần 90 tuổi, quắc thước ngang nhiên Cao Hồng Lĩnh từ gắn bó vô điều kiện với đảng của mình - kể cả khi đảng phạm sai lầm - chuyển sang lập trường bênh vực những công dân lương thiện bị đảng hãm hại, vạch mặt chỉ tên những kẻ cầm quyền mù quáng chà đạp lên luật pháp, thật đáng ca ngợi và nêu gương !

    Nhân đây, tôi muốn được dịp này hỏi ý kiến một số vị VKYN «Việt kiều yêu nước» vừa được Mặt trận Tổ quốc và Ban Việt kiều trung ương cấp bằng khen, các vị nghĩ như thế nào về hành trình chính trị và tinh thần nói trên của người công dân đảng viên lão thành Cao Hồng Lĩnh ? Gần đây, tôi đã thấy trên màn truyền hình của Hà nội các vị hết lời ca ngợi đảng đã «đổi mới sâu sắc đất nước», «đã xây dựng một xã hội công bằng,văn minh» và cúi đầu cung kính nhận tấm bằng khen từ tay chính những kẻ chà đạp luật pháp, đầy ải các thanh niên dân chủ, yêu nước : Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Lê Chí Quang ….

    Tôi xin hỏi riêng các nhà khoa học «Việt kiều yêu nước» hiểu rộng, tài cao trong ngành điện tử Nguyễn Chánh Khê (Hoa kỳ), giáo sư ngành cơ học Nguyễn Đăng Hưng (Bỉ) và giáo sư Đặng Lương Mô (Nhật bản) mà tôi từng am hiểu và quen biết. Ông Nguyễn Chánh Khê đã có những phát minh khá nổi tiếng vùng thung lũng silicone ở bắc Cali, từng tự hào là hiểu biết nhiều mặt : khoa học, văn học, lịch sử và chính trị, có thể thuyết lý thao thao bất tuyệt về nền dân chủ … Ông Nguyễn Đăng Hưng từng đón tôi về Liège nơi ông làm việc, thăm phòng thí nghiệm; ông phê phán mạnh mẽ chế độ một đảng chuyên quyền ở trong nước, luôn nhận xét dân chủ là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền giáo dục đại học nước ta. Ông Đặng Lương Mô, một trí thức Việt kiều hàng đầu ở Nhật bản, từ Tokyo đến Paris tìm gặp tôi, rất mực cảm kích tán đồng cuốn «Hoa Xuyên Tuyết» và hứa sẽ tổ chức dịch ngay cuốn sách này cho bạn đọc Nhật bản … Vậy mà … Vậy mà …

    Tất nhiên việc tiếp nhận các bằng khen, tuyên dương, huân chương của Hà nội ban phát là quyền tự do của các vị VKYN, và đáp lại bằng những lời ca tụng mang tính tung hô - không chút ngượng mồm - cũng là quyền tự do của mỗi người. Tôi được biết các vị còn «được vào lăng viếng lãnh tụ», đi lên tận Cao bằng thăm hang Pắc bó, dự những bữa tiệc mừng Xuân linh đình ở trụ sở Mặt trận Tổ quốc, nhận nhiều quà tặng …

    Chỉ mong các vị hiểu rằng chế độ độc đảng độc đoán tham nhũng không cho không ai cái gì cả đâu ! Cuộc sống ở các nước dân chủ đã cho quý vị nhiều kinh nghiệm quý mà chính các vị đã công khai thừa nhận. Xin chớ vì lý do gì mà đánh rơi mất chính mình ! Ở cương vị quý vị, những nhận xét ngay thật từ trí tuệ và lương tâm, những can ngăn khảng khái trước những việc làm xằng bậy của kẻ đương quyền sẽ có giá trị quý báu hơn nhiều, khác hẳn những lời uốn lưỡi rẻ tiền chỉ để làm vui lòng các quan chức đã mất hết mối liên hệ với nhân dân và thời đại.

    Xin các vị ngẫm nghĩ về hành trình đi đến ánh sáng qua trí tuệ và lương tâm của nhân vật Cao Hồng Lĩnh. Đó là hành trình của kẻ sỹ chân chính. Tôi tin chắc chắn rằng cụ đang sống những ngày đẹp nhất, ’’trẻ’’ nhất, thanh thản nhất, tự tin và cũng được trong và ngoài nước tin yêu nhất, tuy niềm tin yêu ấy không phải bao giờ cũng được bộc lộ đầy đủ.

    Còn các vị VKYN – dù ở phương Tây hay đang học tập, kinh doanh tại các nước thuộc Liên xô cũ, ở Balan hay ở Tiệp - từng sống giữa ánh sáng của trí tuệ, của dân chủ, xin hãy tiến bước ra phía trước, xin đừng vì lý do gì để làm cuộc hành trình ngược; xin các vị tỉnh táo, chớ có lùi về phía sau, đứng thấp hơn về nhân cách so với những thanh niên ưu tú như Nguyễn Khắc Toàn và Lê Chí Quang, tự mình nép dưới cái bóng mờ ảo của những kẻ đương quyền hung hãn trong thế cô quạnh, đang bị cả xã hội và thế giới phê : «hạnh kiểm xấu», thành tích bất hảo về chính trị, về tôn trọng dân quyền và nhân quyền đối với chính nhân dân nước mình.

    Bùi Tín (Paris tháng 5/2003)

    ---------------------------
    (*): Xem : Cao Hồng Lĩnh: Toà án xử theo lệnh trên, chứ không xử theo luật pháp. Mạng Ý Kiến.

    ----- O -----

    Nghiên Cứu:

    Điện thư trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Hoàng Tiến để cùng thảo luận làm sáng tỏ một vấn đề lịch sử và văn hoá của dân tộc. Đã đến lúc chúng ta cần đánh giá lại dữ kiện lịch sử một cách khách quan, tránh bị chi phối bởi các thiên kiến. Đảng CSVN vẫn thường có những cái nhìn đầy định kiến đối với người khai sinh ra chữ Quốc ngữ, đó là các nhận xét về cha cố Alexander de Rhodes thể hiện qua các bài viết trên báo chí, các cuốn sách lịch sử dưới sự kiểm duyệt của Đảng CSVN, và bài phê bình gần đây, đăng trên tạp chí "Thế Giới Mới", về cuốn sách "Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20" của Hoàng Tiến. Ông Hoàng Tiến sinh năm 1933, tốt nghiệp khóa 3 khoa Ngữ văn trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Hiện là hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam.

    Thư ngỏ gửi ông tổng biên tập
    tạp chí Thế giới mới.

    Nhà văn Hoàng Tiến.

    Trên tạp chí Thế giới mới số 531 (ngày 14-4-03) và số 533 (ngày 28-4-03) có đăng liền hai bài viết phê phán cuốn sách "Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20” của tôi, vừa được nhà xuất bản Thanh Niên tái bản năm 2003. Người viết ký tên là Phúc Đường.

    Trước hết tôi xin hoan nghênh tạp chí đã cho đào xới về vấn đề này. Một vấn đề đụng chạm đến hai nhân vật mà lâu nay chúng ta ít muốn đề cập đến. Cha cố Alexandre de Rhodes, một tên gián điệp giả vờ truyền giáo vào dò thám nước ta; và ông Nguyễn Văn Vĩnh, một tên Việt gian bán nước làm tay sai cho thực dân Pháp.

    Thú thật, khi bắt tay vào làm công việc khảo cứu này, là người mày mò đầu tiên, tài liệu thiếu thốn, kiến thức hạn hẹp, tôi rất e ngại.

    Vì vậy trong lời nói đầu sách, tôi đã tự bạch với độc giả:

    "Mới cách nhau có gần thế kỷ, nhưng do chiến tranh liên miên, thất lạc mất nhiều, thư viện trung ương cũng bị chuyển dịch nhiều bận, khiến việc tìm kiếm tư liệu cho người khảo cứu khó khăn như đào đất tìm ngọc. Biết rằng có nơi còn lưu giữ tốt đấy, nhưng không với tới được, như Vatican, như Paris. Phải có tiền, có tiền thuê các cộng sự làm photocopie tư liệu, gửi về, là bánh xe công việc sẽ quay tít như chong chóng.

    Nhưng chẳng lẽ chỉ ngồi mà mơ hão !

    Hoặc ngửa mặt khoanh tay trông chờ những công trình ở nước ngoài làm !

    Người xưa có câu: “Biết đến đâu làm đến đấy; có đến đâu làm đến đấy. Không cầu toàn". Tôi theo câu nói ấy, không ngần ngại trước tư liệu còn thiếu thốn, kiến thức còn hẹp hòi, miễn là lòng thành với vấn đề nêu ra, muốn cho những lớp hậu sinh hiểu rõ công lao của lớp người đi trước, muốn cụ thể hành động theo một nét đạo lý truyền thống của ông cha: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", "Uống nước nhớ nguồn" ..., nên đã không e dè phát gai, giẫy cỏ mà làm. [....]

    Cuốn sách đã hoàn thành (xuất bản tháng 4-1994. Người viết ghi thêm), chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất mong được các bậc hiểu biết bổ khuyết và chỉ giáo cho những chỗ sai lầm, để có dịp in lại, sách được hoàn thiện hơn, hữu ích cho bạn đọc.”

    Cho nên những bài viết góp ý, phê bình, bàn bạc có tính học thuật, tôi đều hết sức hoan nghênh. Có tranh cãi, cọ xát, thì học thuật mới phát triển được.

    Muốn học thuật phát triển thì phải trung thực. Trích dẫn những câu của người ta để phê phán thì phải trích đúng nguyên văn. Điều này bạn Phúc Đường, người viết bài phê phán cuốn sách "Chữ quốc ngữ ...", đã không làm được. Xin dẫn chứng:

    1). Nguyên văn sách in:

    “Rất tiếc rằng, cho đến nay, chúng ta biết rất ít về người đã khai sinh ra chữ quốc ngữ: cha cố Alexandre de Rhodes (1591—1660). Tất nhiên việc này có công sức đóng góp của nhiều người, nhưng ông là đại diện và giữ công đầu.

    Ông là người Pháp gốc Do Thái sinh ở tỉnh Avignon (tài liệu của ông Nguyễn Kim Thản, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam) rất giỏi về ngôn ngữ học. Năm 1620 ông đến Rôma. Năm 1624 ông đến Phú Xuân đời chúa Sãi - Đàng Trong (Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ghi tên là Jean Rhodes). Ở 4 tháng ông đã thông hiểu tiếng Việt, qua 6 tháng ông đã giảng đạo được bằng tiếng Việt (Nhà văn hiện đại. Vũ Ngọc Phan. Quyển nhất). Ông dựng được giáo đường ở Phú Xuân (Việt Nam sử lược. Trần trọng Kim).

    Khi giáo sĩ Julien Baldinoti bị chúa Trịnh Tráng - Đàng Ngoài gây khó dễ, nhận được tin, ông đã ra Bắc ngày 19-5-1625 (Nhà văn hiện đại. Vũ Ngọc Phan. Quyển nhất), ngoại giao khéo léo, biếu chúa Trịnh một cái đồng hồ quả lắc, và được giảng đạo tại kinh đô (Việt Nam sử lược. Trần Trọng Kim).”

    Bài viết phê phán của bạn Phúc Đường đã bỏ đi câu: “Tất nhiên việc này có công sức đóng góp của nhiều người, nhưng ông là đại diện và giữ công đầu."

    Và bạn Phúc Đường đã cố ý bỏ đi tất cả những chú thích trong ngoặc đơn của đoạn văn trên ghi rõ tài liệu, bằng cớ này lấy ở đâu. Ví dụ tài liệu của ông Nguyễn Kim Thản, nhà ngôn ngữ, giảng dạy ở Đại học Tổng hợp; của ông Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại; của ông Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược.

    Việc cố tình bỏ đi như thế nhằm mục đích gì ?

    Chúng ta là những kẻ sinh sau, bàn về công việc của người xưa, thì những trích dẫn, bằng cứ phải nói rõ là lấy ở đâu, lấy của ai. Đấy là cái đức của người nghiên cứu, khảo cứu. Làm sao ta lại dám viết: "Alexandre de Rhodes ngoại giao khéo léo, biếu chúa Trịnh một cái đồng hồ quả lắc, và được giảng đạo tại kinh đô.”. Hồi ấy ta đã sinh ra đâu, ta có nhìn thấy đâu. Nhưng ta dám viết như thế vì lấy trong Việt Nam sử lược của cụ Trần Trọng Kim. Người ta gọi là nói có sách mách có chứng. Như thế mới gây được sự tin cậy cho người đọc.

    Việc làm của bạn Phúc Đường chứng tỏ một cái tâm thiếu trong sáng trong bàn cãi học thuật.

    2). Một ví dụ rõ hơn:

    Sau khi đã kể công và đi đến kết luận A. de Rhodes xứng đáng là cha đẻ của chữ quốc ngữ, tôi có đề xuất việc dựng tượng kỷ niệm A. de Rhodes tại Hà Nội. Bạn Phúc Đường có trích dẫn việc đề xuất dựng tượng, nhưng cả một đoạn biện luận trong nguyên văn bị bạn Phúc Đường cắt bỏ.

    Biện luận là phần quan trọng của đề xuất thì bị cắt bỏ. Học thuật mà bàn cãi kiểu này thật là manh tâm, có thể gọi rõ tên là thủ đoạn lưu manh trong tranh cãi học thuật.

    Đoạn biện luận bị cắt bỏ là: "Vì, chúng ta là một nước văn hiến, chúng ta biết on tất cả những ai đã đóng góp cho nền văn minh dân tộc. Ngay cả xưa kia, trong thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta vẫn ghi công cho những viên quan cai trị người phưong Bắc như các ông Tích Quang, Nhâm Diên, những người đã giúp cho sự phát triển của xứ sở, và đã không ngần ngại gọi Sĩ Nhiếp là Nam Giao học tổ vì đã có công mở mang việc học hành ở đất nước này. (Hiện nay còn đền thờ và lăng mộ. Người viết ghi thêm) Huống hồ Alexandre de Rhodes ......"

    Nếu không có đoạn biện luận này thì việc đề xuất dựng tượng thành ngớ ngẩn, bốc đồng, gây trò cười cho thiên hạ.

    3). Những người đi sau thường thừa hưởng thành quả của người đi trước. Gần chục năm nay vấn đề chữ quốc ngữ cùng những người có công như cha cố A. de Rhodes và ông Nguyễn Văn Vĩnh đã được nhiều người đề cập đến. Nhiều tài liệu mới được công bố. Bây giờ người ta có thể dễ dàng kể tên hàng loạt những cha cố có công trong việc hình thành chữ quốc ngữ đầu tiên: Francisco de Pina, Gaspar d’Amaral, António Barbosa, Alexandre de Rhodes, Francisco Buzomi, Antonio Dias, Manoel Fernandez, Antonio Fernandez, Christofora Borri ... và người Việt Nam thì như Sách sổ sang chép các việc của thày dòng Philípphê Bỉnh ..vv...

    Thời chúng tôi mày mò thì đâu có nhiều tài liệu như thế. Bác Chiêu Dương ở tận khu Mai Động thôn M táo nhắn đến cho tài liệu về chữ quốc ngữ. Thế là lóc cóc chiếc xe đạp tàng từ đầu thành phố đến cuối thành phố. Nhiều tài liệu đem về để đấy chứ không dùng được. Đâu có được điện thoại, xe máy vù vù như bây giờ; máy ghi âm, băng ghi hình rất tiện lợi cho việc lấy tư liệu.

    Bây giờ một học sinh phổ thông trung học, nếu ham thích có thể tìm đọc và trích dẫn hàng loạt những mẩu chuyện phong phú về chữ quốc ngữ có ở rất nhiều các loại sách báo, kể cả sách Almanach. Những chuyện lặt vặt như bà hoàng Minh Đức xin ân giảm, chuyện các chúa Trịnh, chúa Nguyễn hành tội các nhà truyền giáo có đầy đầy.

    Nhưng cái quan trọng là biết xử dụng tài liệu và biện luận. Trong tranh biện học thuật cách hay nhất là dùng tư liệu để thuyết phục. Mọi nhà nghiên cứu đều có tư liệu, nhưng tư liệu của anh lấy ở đâu, dựa vào những nhà danh tiếng nào, có nguồn gốc đáng tin cậy hon, lại biết trình bày thuyết phục hơn, thì bạn đọc chấp nhận.

    Nên tránh lối nói rao giảng kiểu tuyên huấn chung chung, như bạn Phúc Đường đã viết: "Nếu chịu khó tham khảo nguồn tài liệu dồi dào, kết hợp vận dụng tư duy logic chặt chẽ, chắc hẳn Hoàng Tiến đã không dễ dãi hạ bút viết những dòng phi biện chứng và bất chấp sự thật lịch sử."

    Thế nào là vận dụng tư duy logic chặt chẽ ?

    Thế nào là phi biện chứng ?

    Thế nào là bất chấp sự thật lịch sử ?

    Nhưng kiểu nói xưng xưng như thế này, hỏi rằng có lợi ích gì cho công việc học thuật.

    Bạn Phúc Đường lại còn cay cú viết: "Chẳng rõ bằng cách nào mà công trình Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20 do Hoàng Tiến thực hiện lại được đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước với mã số KX 06—17 ? Công trình thiếu nghiêm túc ấy đã được rót bao nhiêu kinh phí và đã được hội đồng nghiệm thu chưa mà xuất bản thành sách ?"

    Rõ ra là một giọng ghen tị tức tối cá nhân. Thật không đóng góp gì cho việc phát triển học thuật.

    4). Cuốn sách “Chữ quốc ngữ ... .” có thể đặt ra nhiều điều bàn cãi tốt, thú vị nữa. Riêng phần cha cố Alexandre de Rhodes, có thể tranh cãi về những điều sau:

  • Cố A. de Rhodes có xứng đáng là cha đẻ của chữ quốc ngữ không ? Hay là cố Francisco de Pina ? Hay là cố Gaspar d’Amaral (tiếng Bồ Gaspar do Amaral) ? Hay là cố Antoine Barbore (tiếng Bồ là António Barbosa) ? Hay là ai khác ... ?
  • Việc đề xuất dựng tượng Alexandre de Rhodes có bốc đồng không ? Một tên gián điệp cố đạo vào dò thám tình hình, rồi kéo theo là đội quân xâm lược khiến chúng ta mất nước như nhiều người thường kết tội lâu nay. Vậy A.de Rhodes thật là có tội hay có công ?
  • Cũng có thể tranh cãi về một nhận xét sau: "Thế là Vatican đã cử các nhà truyền giáo sang Việt Nam để khai sinh ra chữ quốc ngữ, và Vatican lại là nơi in ấn chữ quốc ngữ đầu tiên. Đứng về nhận thức tâm linh, có thể nói, thượng đế đã ban cho Việt Nam một món quà vô giá, thông qua Vatican và các nhà truyền giáo của toà thánh."
  • Có đề cao Vatican quá chăng ? Có mê tín dị đoan chăng ? Thượng Đế, Đức Chúa hay Ông Trời có chi phối cuộc sống của chúng ta chăng ? Bước vào thế kỷ thứ 21 này (nhiều người gọi là thế kỷ của tâm linh) là một vấn đề đáng suy ngẫm và bàn cãi nữa lại càng hay.

    Về phần ông Nguyễn Văn Vĩnh, cũng có nhiều điều đáng bàn lắm:

  • Ông Nguyễn Văn Vĩnh có là Việt gian cho Tây hay không ?
  • Ông Nguyễn Văn Vĩnh là người chiếm công đầu trong việc phổ biến cổ võ chữ quốc ngữ. Hay là ông Trương Vĩnh Ký ? Hay là ông Paulus Huỳnh Tịnh Của ? Hay là thầy dòng Philípphê Bỉnh ? Hay là một ai khác ... ?
  • Ông Nguyễn Văn Vĩnh nên xứng đáng đặt tên phố ở Hà Nội không ? Nghe nói ở Sài Gòn đã có tên phố rồi. Cần nhiều công trình nghiên cứu về ông Vĩnh để sáng danh là một nhà văn hoá lớn của thế kỷ thứ 20. Riêng tôi cũng đang chuẩn bị cho việc làm này.

    5). Trở lại phần cha cố Alexandre de Rhodes. Mặc dù sau này tôi có đọc được tài liệu nói về Francisco de Pina. Cuốn sách mang tiêu đề "Công việc của một số người Bồ Đào Nha tiên phong trong lãnh vực ngôn ngữ Việt Nam cho đến năm 1650” (L’oeuvre de quelques pionniers Portugais dans le domaine de la languistique Vietnamienne jusqu’en 1650) của Roland Jacque in năm 1995 ở Paris, do Viện quốc gia ngôn ngữ và văn minh phương Đông ấn hành (Institut national des langues et civilisations orientales. Paris 1995).

    Thú thật là trước đó tôi chưa hề biết đến Francisco de Pina. Ông đến Đàng Trong sớm nhất là năm 1617 chậm nhất là năm 1618, học tiếng Việt để giảng đạo đầu tiên, lại dạy các giáo sĩ cùng học tiếng Việt (trong đó có cha A. de Rhodes), và ông đã hy sinh trong khi cứu hộ những người dân đắm thuyền ở biển Đà Nẵng vào ngày 15-12-1625. Thật rất đáng kính trọng. Tuy nhiên, công đầu về việc hình thành chữ quốc ngữ vẫn thuộc cha cố Alexandre de Rhodes. Căn cứ vào hai sự việc:

    Trong bản tóm tắt khiêm tốn của mình Alexandre de Rhodes đã đạt được tính khoa học, tính khúc chiết và tính giản dị mà các nhà ngôn ngữ học tiếng Việt ngày nay còn có thể học hỏi được khá nhiều.

    Chưong I, chữ và vần, xác định các chữ cái, các vần tiếng Việt.
    Chưong II, giải thích việc dùng các dấu và dấu hiệu trên nguyên âm.
    Các chưong III đến VI bàn về các từ loại.
    Chưong VII và VIII bàn về các phần còn lại không biến cách của lời nói, và một số luật không liên quan đến cú pháp.

    Bản liệt kê tóm tắt trên thực tế đã đặt nền móng cho ngữ pháp học tiếng Việt.

    Rõ ràng Alexandre de Rhodes xứng đáng là cha đẻ của chữ quốc ngữ bây giờ.

    Công lao này giữa các cha cố, cũng giống trường hợp giữa người Việt Nam. Ông Trương Vĩnh Ký, ông Huỳnh Tịnh Của hay thầy Philípphê Bỉnh ... là những người dùng chữ quốc ngữ đầu tiên, nhưng công đầu về chữ quốc ngữ ở Việt Nam lại thuộc về ông Nguyễn Văn Vĩnh. (Điều này bàn sau, không thuộc phạm vi bài viết này).

    6). Việc kết tội cha cố Alexandre de Rhodes là gián điệp là điều lâu nay nhiều người đã làm. Bạn Phúc Đường trong bài viết của mình cũng là theo hướng kết tội gián điệp như nhiều người trước đây. Nhưng bạn Phúc Đường cũng chỉ đưa ra được mấy chứng cứ:

  • Chứng cứ I. Trong cuốn Lịch sử vưong quốc Đàng Ngoài ấn hành tại Pháp năm 1651, ông (A.de Rhodes) kêu gọi: "Đấy là chỗ nên chiếm lấy, nếu muốn lập cơ sở buôn bán, các lái buôn Âu châu sẽ tìm thấy nguồn lợi nhuận và của cải dồi dào" (Thế giới mới số 533 bài Alexandre de Rhodes là người thế nào ?)
  • Chứng cứ II. Bonifacy soạn sách Les débuts du christianisme (Bước khởi đâù của đạo Kitô ở Việt Nam) xuất bản tại Hà Nội năm 1930 đã viết: "Vai trò của A. de Rhodes trong việc thành lập MEP (Hội Thừa sai Paris - Société des Missions étrangères de Paris - viết tắt là MEP), hoạt động của ông đã đưa giáo phận Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong ra khỏi vòng kiểm soát của người Bồ, nói chung đã đem lại cho nước Pháp vị thế quan trọng nhất trên bán đảo Đông Dương.” (Thế giới mới số 533. Bài đã dẫn).
  • Chứng cứ III. Năm 1969, tại đại học Sorbonne ở Paris, Cao Huy Thuần bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học chính trị với đề tài Christianisme et Colonialisme au Việt Nam (Đạo Kitô và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam). Luận án đã đưa ra nhiều chứng cứ giá trị được khai thác từ các văn khố Pháp quốc mà đây là một văn bản do chính A. de Rhodes chấp bút: “Tôi tin rằng Pháp sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh sĩ để chinh phúc toàn thể phương Đông ... Tôi rời La Mã ngày 11-9-1652 với ý định đó.” (Thế giới mới số 533. Bài đã dẫn)
  • Chứng cứ IV. Chứng cứ mới nhất góp phần kết tội A. de Rhodes, bạn Phúc Đường dựa vào là: "Avro Manhattan, nhà sử học người Mỹ, tác giả tập sách “Vietnam: why did we go ?” (Việt Nam: cớ sao chúng ta đến đấy ?) ấn hành tại California (Mỹ) năm 1984, đã ghi nhận: “A. de Rhodes đến Đông Dưong năm 1624. Một thập niên sau, ông ta gửi về La Mã và nước Pháp bản báo cáo rất chính xác về tiềm năng kinh tế, về tình hình chính trị và thương mại của vùng này. Các giáo sĩ thừa sai dòng Tên được chiêu tập ngay và phái sang đấy giúp A. de Rhodes ... Cả toà thánh La Mã và nước Pháp đều coi những việc làm này là những liên hệ khắng khít với việc đánh chiếm các quốc gia Đông Dương." (Thế giới mới số 533.Bài đã dẫn)
  • Tóm lại chỉ có 04 (bốn) chứng cứ vừa nêu trên.

    Tôi xin được làm luật sư biện hộ cho cha cố Alexandre de Rhodes.

    Theo luật pháp hiện hành ở trong nước cũng như trên thế giới, ý định chưa phải là tội phạm. Việc phạm tội lại diễn ra sau một thời gian quá dài (gần 200 năm), mà kẻ có ý định phạm tội không tham dự (vì chết lâu rồi) thì càng không thể kết tội họ được.

    Bây giờ bàn cụ thể vào từng chứng cứ của bạn Phúc Đường nêu ra:

    Về chứng cứ thứ nhất.- Theo tôi, Alexandre de Rhodes là một nhà truyền giáo. Các nhà truyền giáo đi các nơi có ghi lại những phong tục, tập quán, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, thương mại của những vùng đất họ truyền giáo, là công việc của họ và quyền của họ. Luật pháp quốc tế không cấm đoán những việc làm này. Nhờ thế mà các nhà viết sử, nhà nghiên cứu xã hội học, dân tộc học, nhà làm nghệ thuật, nhà kinh tế, nhà quân sự, dựa vào những tư liệu của họ mà làm nên những công trình của mình. Vậy tội hay không tội là ở người sử dụng.

    Việc Pháp đánh chiếm Việt Nam cách gần hai thế kỷ sau khi cha cố A. de Rhodes mất, không nên đổ tội cho A. de Rhodes vì ông đã xúi giục: "Đấy là chỗ nên chiếm lấy, nếu muốn lập cơ sở buôn bán, các lái buôn Âu châu sẽ tìm thấy nguồn lợi nhuận và của cải dồi dào." (Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài. 1651)

    Nếu kết tội như thế, thì việc Mỹ đưa quân đánh Việt Nam nửa sau thế kỷ 20 cũng là do A. de Rhodes xúi giục; và Mỹ đánh Iraq vừa rồi cũng là lỗi của A. de Rhodes vì đấy là miền của cải dồi dào mà Rhodes đã muốn Pháp cấp cho binh sĩ để ông chinh phục toàn thể phương Đông (theo tài liệu đẫ dẫn của bạn Phúc Đường).

    Bạn Phúc Đường phán quyết: “Mối liên hệ khắng khít giữa A. de Rhodes và tổ chức MEP dẫn tới cuộc nổ súng xâm lược của liên quân Pháp-Tây Ban Nha vào bán đo Sơn Trà (Đà Nẵng) ngày 1-9-1858 (nhằm ngày 24-7 Mậu Ngọ, chứ không phải ngày 15-8-1858 như Hoàng Tiến nhớ nhầm) là một thực tế lịch sử. Đó là cả quá trình dài lâu tuân theo "công thức" bành trướng thực dân: ngoại giao—truyền giáo—xâm lược bằng vũ trang."

    Tôi nhớ ngày 15-8-1858 là dựa theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim. Còn bạn cho là 1-9-1858 là theo tài liệu nào ? của ai ? Cũng như tôi viết A. de Rhodes là người Pháp gốc Do Thái sinh ở tỉnh Avignon là theo ông Nguyễn Kim Thản nhà ngôn ngữ học giảng dạy ở Đại học Tổng hợp. Bạn cho là người Pháp gốc Tây Ban Nha là theo tài liệu nào, xin cứ trình bày ra cho mọi người biết. Nhưng đây là những tiểu tiết, không quan trọng lắm, cái quan trọng là Pháp có bắn vào Đà Nẵng năm 1858, tức là gần 200 năm, đúng ra là 198 năm, sau khi Alexandre de Rhodes mất (1660).

    Mối liên hệ khắng khít giữa A. de Rhodes và tổ chức MEP dẫn tới cuộc nổ súng xâm lược của liên quân Pháp—Tây Ban nha vào bán đảo Son Trà (Đà Nẵng) ... Câu văn viết như thế này là trách nhiệm chính trong cuộc xâm lược thuộc về các nhà truyền giáo. (Bạn Phúc Đường dùng từ khắng khít, từ điển Tiếng Việt không có, người ta chỉ nói khăng khít nghĩa là gắn bó, ràng buộc chặt chẽ, chứ không ai nói khắng khít bao giờ. Tuy nhiên, đây là lỗi nhỏ).

    Đặt câu như trên là kết tội nặng nề các nhà truyền giáo. Các nhà truyền giáo thành chủ thể chủ động của sự việc xâm lược. Và thế lại không đúng với sự thật lịch sử.

    Sự bành trướng của thế lực tư bản phưong Tây, trở thành thực dân đi xâm chiếm tìm thị trường, nguyên liệu, nhân công trên thế giới ở các thế kỷ 17, 18, 19 là nguyên nhân chính của các cuộc nổ súng xâm lược. Kể cả Pháp xâm lược Việt Nam. Đâu phải là mối liên hệ khắng khít giữa A. de Rhodes và tổ chức MEP dẫn tới cuộc nổ súng xâm lược.

    Bạn Phúc Đường dựa theo “công thức” bành trướng thực dân: ngoại thương—truyền giáo—xâm lược vũ trang. Đây là một kiểu tư duy sơ cứng và cũ kỹ. Bành trướng thực dân biến hoá có hàng chục cách khác nhau. Vì tư duy sơ cứng máy móc nên cứ cố ghép truyền giáo là một khâu trong mắt xích xâm lược, rồi khép cho họ đủ các thứ tội.

    Chỉ có các tên gián điệp đội lốt tôn giáo, còn các nhà truyền giáo chân chính không bao giờ làm gián điệp. Bởi đức tin của họ ở Chúa, chứ không ở mấy đồng xèng các thế lực xâm lược trả công cho họ.

    Có thế mới lý giải được những trường hợp các nhà truyền giáo tự nguyện đi đến các vùng xa xôi hẻo lánh, đói khổ, bệnh tật, nguy hiểm, trên khắp thế giới mà họ không nề hà, thậm chí cái chết cũng không ngăn cản được họ.

    Nếu có thể kết tội một cha cố đã cộng tác với Pháp dẫn đến sự xâm chiếm Việt Nam sau này, chỉ có thể là ông Pigneau de Béhaine (tên Việt là Bá Đa Lộc), người đã dẫn hoàng tử Cảnh làm bo tín sang Pháp xin viện trợ, thay mặt chúa Nguyễn Phúc Ánh (tức vua Gia Long sau này) ký tờ giao ước với vua Pháp. Rồi chính Bá Đa Lộc đã đi mộ người, mua tàu và súng ống khí giới, cùng các ông Chaigneau (tên Việt là Nguyễn Văn Thắng) tức là chúa tàu Long, ông Vannier (tên Việt là Nguyễn Văn Chấn) chúa tàu Phụng, ông De Forcant (tên Việt là Lê Văn Long), ông Victor Ollivier (tên Việt là ông Tín) .... cả thảy được gần 20 người để giúp Gia Long (Việt Nam sử lược. Trần Trọng Kim).

    Tờ giao ước có những khoản như sau:

    1. Vua nước Pháp thuận giúp cho Nguyễn Vương 4 chiếc tàu chiến, và một đạo binh: 1.200 lục quân, 200 pháo binh, 250 lính Phi châu và đủ các thứ súng ống thuốc đạn.
    2. Vì vua nước Pháp có lòng giúp như thế, Nguyễn Vương phải nhường đứt cho nước Pháp cửa Hội An (Faifo) và đảo Côn Lôn (Poulo Condore).
    3. Nguyễn Vương phải để cho người nước Pháp ra vào buôn bán tự do ở trong nước, ngoại giao, không cho người nước nào ở Âu châu sang buôn bán ở nước Nam nữa.
    4. Khi nào nước Pháp có cần đến lính thủy, lính bộ, lưng thực, tàu bè ở phương Đông, thì Nguyễn Vương phải ứng biện cho đủ giúp nước Pháp.
    5. Khi Nguyễn Vương đã khôi phục được nước rồi, thì phải cứ mỗi năm làm một chiếc tàu, y như tàu của nước Pháp đã cho sang giúp, để đem sang trả cho Pháp hoàng. (Việt Nam sử lược. Trần Trọng Kim)

    Tờ giao ước không được thực hiện, vì trắc trở lại ở phía Pháp, (thật là may cho dân tộc ta !). Khi thành công lên ngôi, Gia Long vẫn phải ưu ái ông Bá Đa Lộc và những người Pháp đến giúp, dẫn tới việc mất nước sau này. Gia Long thì mang tội cõng rắn cắn gà nhà.

    Còn những chứng cứ II, III, IV của bạn Phúc Đường nêu ra, thì dễ bác bỏ thôi.

    Chứng cứ II, trích lời của Bonifacy ở đây, chỉ là một khẳng định công lao của A. de Rhodes đối với giáo hội Thừa sai Paris. Mở rộng thế lực giáo hội của mình, át đi thế lực giáo hội của Bồ Đào Nha. Đó là chuyện của nội bộ tôn giáo. Dựa vào chứng cứ này để kết tội A. de Rhodes làm gián điệp, người ta gọi là đầu Ngô mình Sở.

    Chứng cứ III, lấy một câu nói của Rhodes trích trong bản luận án tiến sĩ của Cao Huy Thuần: “Tôi tin rằng Pháp sẽ cung cấp cho tôi nhiều binh sĩ để chinh phục toàn thể phưong Đông ... Tôi rời La Mã ngày 11-9-1652 với ý định đó.” Rồi sau đó A. de Rhodes đến Ba Tư và mất ở đó.

    Việc này chẳng liên can gì đến việc đánh chiếm nước ta. Sau đó A. de Rhodes có chinh phục được phương Đông bằng binh sĩ Pháp không ? Không thấy sử sách nào ghi. Nếu có xảy ra sự việc ấy, và cần kết tội, thì người Ba Tư sẽ kết tội đầu tiên, chứ sao lại là bạn Phúc Đường ? Chứng cứ này đưa vào đây thành vô nghĩa.

    Chứng cứ IV. Bạn Phúc Đường dựa vào ý kiến một nhà sử học người Mỹ viết tập sách "Việt Nam: cớ sao chúng ta đến đấy ?” (Vietnam: why did we go ?), trong đó có câu: “Cả toà thánh La Mã và nước Pháp đều coi những việc làm này là những liên hệ khắng khít với việc đánh chiếm các quốc gia Đông Dương."

    Chúng tôi chưa đọc tập sách này, nhưng theo đầu đề cùng đoạn trích dẫn bạn Phúc Đường nêu, tôi hiểu rằng họ viết là để thanh minh cho họ, vì vùng đất này hấp dẫn lắm, giàu tiềm năng kinh tế, thương mại, nhiều nước phưong Tây thèm khát muốn xâm chiếm và đã xâm chiếm. Đâu phải chỉ có người Mỹ chúng tôi xâm chiếm.

    Buồn cười là đoạn văn trích: “ông ta gửi về La Mã và nước Pháp bản báo cáo rất chính xác về tiềm năng kinh tế, về tình hình chính trị và thưong mại của vùng này. Các giáo sĩ thừa sai dòng Tên được chiêu tập ngay và phái sang đấy giúp A. de Rhodes ... Cả toà thánh La Mã và nước Pháp đều coi những việc làm này là những liên hệ khắng khít với việc đánh chiếm các quốc gia Đông Dương."

    Không biết câu văn nguyên bản của nhà sử học Mỹ viết thế nào ? Liên hệ khắng khít gì mà đến 200 năm sau Pháp mới nổ súng xâm chiếm. Nghĩa là có năm sáu đời người đã qua đi.

    Mình là người bị Pháp xâm chiếm, là người sống trong chăn, nguyên nhân bị xâm chiếm ra sao, tất phải biết rõ hơn người ngoài. Mượn lời nói của người ngoài để làm sai lệch nguyên nhân xâm lược (đổ lỗi cho tôn giáo) là điều phi lịch sử.

    Tạm kết luận:

    Ông Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo cộng sản Trung Hoa, trong di chúc, có viết đại ý, một đời người cống hiến phục vụ đều có ưu điểm, khuyết điểm. Chung cục xét ra được nửa công nửa tội là may mắn rồi. Nếu công nhiều hơn tội thật tối hảo (quá tốt).

    Xét về cha cố Alexandre de Rhodes, cái công lập ra chữ quốc ngữ là quá vinh quang. Ông lại là người công giáo, thờ Chúa. Những người hẹp bụng thường không ưng. Nên cũng muốn gán cho ông một tội gì thật nặng (tội gián điệp) để làm lu mờ ông đi. Nhiều người không suy xét kỹ cũng ngộ nhận theo.

    Khi tôi bắt tay vào viết tập "Chữ quốc ngữ ...." , nhiều bạn cũng gàn, cho rằng không nên đề cập đến tên cố đạo gián điệp ấy, cứ lờ đi, cho chìm trong im lặng. Nhưng tôi trình bày những đóng góp của A. de Rhodes và nhất là việc ông chết rồi, gần hai thế kỷ sau Pháp mới nổ súng xâm chiếm Việt Nam, thì nhiều người ngớ ra, có người cứ tưởng ông là người mang hoàng tử Cảnh sang Pháp ký giao ước với vua Pháp.

    Alexandre de Rhodes là nhà truyền giáo. ông cũng là một con người, nên không thể tránh khỏi những lỗi lầm trong công việc truyền đạo, bênh vực tôn giáo mình, chê bai tôn giáo khác.

    Ông chỉ sống ở Việt Nam khoảng 7-8 năm không liên tục, mà cống hiến được một thứ chữ viết cho người Việt Nam, phải nói là quá giá trị, thần kỳ nữa (về mặt tâm linh phải kêu là ơn Chúa), khiến Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á latinh hoá (romanisation) được chữ viết của mình, thuận lợi cho việc hoà nhập toàn cầu ngày nay biết bao nhiêu. Thật là vạn hạnh cho dân tộc ! Người Việt Nam phải biết ơn cha cố Alexandre de Rhodes, người đại diện cho nhiều cha cố như đã kể tên ở trên, trong việc tạo thành chữ quốc ngữ

    Tuy nhiên việc phổ biến thứ chữ đó và hoàn thiện nó để trở thành chữ viết của toàn dân như ngày nay thì lại là công của người Việt Nam. Cả một lớp trí thức tây học đầu thế kỷ· 20 có công trong việc này, và người chiếm công đầu là ông Nguyễn Văn Vĩnh.

    Đã đến lúc, điều kiện bây giờ đã đủ độ chín, để chúng ta có thể định giá về công và tội thật rõ ràng cho nhân vật được gọi là cha đẻ của chữ quốc ngữ: cố Alexandre de Rhodes, tránh những ngộ nhận lâu nay đã trở thành định kiến của nhiều người.

    Một cuộc hội thảo là chưa đủ (đã tổ chức tại Hà Nội ngày 22-12-1995 nhân kỷ niệm 335 ngày mất của Alexandre de Rhodes).

    Mong những ai quan tâm đến chữ quốc ngữ hãy tham gia thảo luận, để tiến tới, khi có điều kiện về kinh tế, dựng tuợng Alexandre de Rhodes tại Hà Nội, ghi công trạng cho ông.

    Ngày 15 tháng 5 năm 2003

    Hoàng Tiến, nhà văn.
    (Địa chỉ: Nhà A 11 Phòng 420
    Thanh Xuân Bắc - Hà Nội)

    Câu Lạc Bộ Dân Chủ Việt Nam